zz

br /> br /> /> br /> ----

Friday, 14 August 2015

Đấu tranh bất bạo động, con đường khó khăn và cực nhọc

Đấu tranh bất bạo động, con đường khó khăn và cực nhọc

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-03-16 


Người dân biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 03-07-2011. 
AFP PHOTO 

Tổ chức chính trị Việt Tân luôn khẳng định rằng công cuộc tranh đấu của họ từ xưa tới nay luôn giữ tôn chỉ “bất bạo động”. Đây là con đường duy nhất được hầu hết các nước trên thế giới chấp nhận đối với các cuộc tranh đấu đòi hỏi công lý, dân chủ, nhân quyền của người dân tại rất nhiều quốc gia. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn đặc biệt với ông Lý Thái Hùng, Tổng bí thư đảng Việt Tân để tìm hiểu thêm sách lược của tổ chức này đối với tinh thần “bất bạo động”. Tưởng cũng xin nhắc lại quan điểm của người được phỏng vấn hoàn toàn không nhất thiết là quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.

Nhiều phướng pháp đấu tranh bất bạo động

Mặc Lâm: Thưa ông, xin ông cho biết trong rất nhiều hình thức đấu tranh bất bạo động ông chủ trương nên chọn hình thức nào cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay?

Lý Thái Hùng: Đúng như anh nói là có rất nhiều phướng pháp đấu tranh bất bạo động. Vì không có nhiều thì giờ để đi vào chi tiết từng phương pháp, nên chúng tôi xin chia sẻ một vài ý niệm về bất bạo động mà tôi nghĩ là phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay.
Trước hết, sở trường của chế độ cai trị hiện nay là bạo lực, bạo hành. Chúng ta phải chọn đấu trường nào mà những vũ khí bạo hành hoàn toàn vô dụng hay chỉ có tác dụng rất nhỏ. 

Dù căm phẫn hay tức giận cách mấy, chúng ta vẫn không thể chọn đấu trường bạo động vì đó là nơi mà bạo quyền có ưu thế tuyệt đối.

Kế đến, ưu thế của chúng ta là số đông, bao gồm cả những người đảng viên đảng Cộng sản Việt còn lương tâm và đang bất mãn tình hình hiện nay. Đa số đều thấy rõ là không có cách nào sửa chữa một chế độ độc tài ngoài việc phải gỡ bỏ nó. Hơn thế nữa, việc gỡ bỏ chế độ độc tài hiện tại càng phải được thực hiện gấp rút vì càng lâu sẽ càng mất thêm chủ quyền đất nước vào tay ngoại bang.
Dựa vào kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động của một số nước, việc tháo gỡ một chế độ độc tài như tại Việt Nam hiện nay là điều có thể làm được và làm bằng phương thức bất bạo động. 
-Ô. Lý Thái Hùng

Sau cùng, trong tình hình liên lập trên thế giới hiện nay, lãnh đạo CSVN phải mở cửa giao thương với bên ngoài nên vì vậy cũng bị những áp lực phải sống theo các ràng buộc của tiêu chuẩn quốc tế. Và đó là một đấu trường mà chúng ta cần phải tận dụng bên cạnh các đấu trường trong nước.

Nói tóm lại, dựa vào kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động của một số nước, việc tháo gỡ một chế độ độc tài như tại Việt Nam hiện nay là điều có thể làm được và làm bằng phương thức bất bạo động. Chúng ta có đủ sáng kiến và khả năng để làm soi mòn nền tảng quyền lực của chế độ và bộ máy bạo lực mà súng ống, roi điện, gậy gộc của công an không chận bước lại được.

Mặc Lâm: Nhà nghiên cứu và giảng dạy triết học Bùi Văn Nam Sơn cho rằng “Bất công xã hội, tự nó, là bạo động. Đặc quyền, đặc lợi là bạo động. Độc thoại trên diễn đàn thông tin đại chúng là bạo động. Ngôn ngữ mạ lỵ, thiếu tương kính là bạo động …” ông chia sẻ với quan điểm này ra sao qua góc nhìn chính trị?

Lý Thái Hùng: Tôi nghĩ rằng nhận xét của Giáo sư Bùi Văn Nam Sơn rất đúng. Tất cả các điều đó đều là những hình thức bạo động, bạo hành mà những người cầm quyền tại Việt Nam đang xử dụng đối với đại khối người dân. Họ vẫn tiếp tục áp dụng rất có bài bản được dạy từ thời Lênin, Mao Trạch Đông theo kiểu "sức mạnh cách mạng đến từ nòng súng", nghĩa là cai trị bằng sự sợ hãi, bằng hệ thống nhà tù. . .

Nhưng chính sách mà Hà Nội đang sử dụng để củng cố quyền lực không có nghĩa là phía chúng ta, dân tộc Việt Nam, cũng phải chọn cùng một phương cách, tức chọn bạo động, để đối phó.

Lý do rất đơn giản là nếu chúng ta bị cuốn vào đấu trường bạo động, lãnh đạo CSVN có ưu thế tuyệt đối về vũ khí và phương tiện bạo hành để đàn áp. Cùng lúc đó, chúng ta sẽ mất nhiều sự hậu thuẫn và tiếp tay của quốc tế. Họ sẽ xem đó là loại "nội chiến giữa chính phủ và quân phiến loạn", thay vì xem đó là "cuộc tranh đấu của người dân Việt Nam trước những cai trị tàn ác và lạc hậu của chế độ Hà Nội.”

Mặc Lâm: Những “bạo động” vô hình vừa nói đã và đang nằm yên trong xã hội Việt Nam, theo ông cần làm gì để đánh thức nó bằng phương pháp bất bạo động như chiến lược mà Việt Tân đưa ra? 

Lý Thái Hùng: Thưa anh, tôi tin là trong mỗi con người luôn luôn có sự bất bình khi nhìn những cảnh đàn áp, cướp bóc, phi nhân tính đang diễn ra khắp nơi trên cả nước như vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Cồn Dầu, Thái Hà...  Tuy nhiên, vấn đề ở đây là khoảng cách giữa phản ứng bất bình và hành động để thay đổi bất công.

Người dân biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội hôm Chủ nhật 02/06/2013.

Phải thừa nhận là sau hơn nửa thế kỷ sống trong sự khủng bố tinh thần thường trực, phải sống trong bầu không khí lo sợ những người thân chung quanh mật báo cho công an, phải nhìn những người kiên cường bị chế độ hành hạ suốt cuộc đời, v.v... đa số người dân Việt Nam nói chung bị rơi vào tình trạng vô cảm để được yên thân.

Do đó chúng ta rất cần phải thuyết phục nhau loại "yên thân" đó, thật ra không yên chút nào cả. Trong đời sống hàng ngày, mỗi người dân đều có thể bị biến thành nạn nhân nhiều lần trong cùng một ngày, từ bị công an giao thông chận lại đòi tiền hối lộ, đến việc phải hối lộ để vào bất kỳ văn phòng hành chánh nào hay ngay cả để đi khám bệnh, đến việc bị bất ngờ vu cáo đủ loại tội trạng từ trốn thuế đến trộm cắp.

Ngoài ra, chúng ta cần phải thuyết phục nhau rằng, từng người dân mới nhìn tưởng là "tay không" nhưng thực sự chúng ta đang nắm nhiều sức mạnh trong tay mà không biết. Sức mạnh đó nếu được nối liền lại với nhau sẽ trở thành loại vũ khí bất bạo động có khả năng làm tê liệt các chế độ độc tài với đầy đủ roi điện, súng ống, xe tăng. Tôi xin liệt kê một vài thí dụ:

- Chẻ rất nhỏ công việc ra để ai cũng có thể làm được nhưng làm trên cả nước. Thí dụ như 90 triệu người cùng viết 1 câu thôi, như "16 chữ vàng = mất nước" bằng bất kỳ loại mực, sơn, phấn, than gì và trên bất kỳ giấy, tường, kính, thành xe, v.v. thì tác động trên cả nước đã rất lớn. Chế độ Hà Nội có muốn chận cũng không được và cũng không biết bắt ai.

- Người dân khắp nơi cùng lôi kéo gia đình của những cán bộ cấp thấp, công an cấp thấp hãy nghĩ tới quả báo, nghĩ tới ngày phải đứng trước tòa án của dân mà khuyên người thân của mình đừng thi hành những lệnh độc ác từ trên, âm thầm giúp đỡ các nạn nhân đang bị hành hạ trong tù ngục, v.v... thì tác động lên guồng máy bạo hành của chế độ đã rất lớn.

- Đặc biệt là chủ động tạo ra những vấn nạn tiến thoái lưỡng nan cho chế độ, nghĩa là tiến hay lùi, đối phó hay làm ngơ đều khó, chẳng hạn như phong trào liên tục đòi chế độ phải diệt trừ tham nhũng. Làm ngơ để cho tham nhũng lan tràn cũng chết, còn diệt tham nhũng là tự chặt tay chân cũng chết, và làm dáng theo kiểu "khuấy nồi canh đang sôi cho khỏi trào thôi" thì cũng chỉ mua thêm chút thời gian chứ không khác gì chính sách làm ngơ.

Nói tóm lại, chúng ta có rất nhiều cách thức mà tôi tin là óc sáng tạo của người Việt không thua gì, nếu không nói là sẽ vượt trội trong nhiều trường hợp, các dân tộc khác. Họ đã tự giải phóng được và đưa đất nước đi lên. Dân tộc chúng ta chắc chắn cũng có thể làm được.
Lợi điểm

Mặc Lâm: Bạo động không hẳn là tự trói nhưng không thể nói là tích cực trong một cách nhìn nào đó. Theo ông hình ảnh tích cực nhất của bất bạo động là gì?

Lý Thái Hùng: Theo tôi, lợi điểm lớn nhất của đấu tranh bất bạo động có thể nhìn thấy ở một số điểm như:

Lợi điểm lớn nhất của đấu tranh bất bạo động là tiết kiệm tối đa những đổ vỡ và thiệt hại về tài sản, sinh mạng, và tiềm năng phục hồi để đi lên của đất nước hậu độc tài. 

-Ô. Lý Thái Hùng
Một là tiết kiệm tối đa những đổ vỡ và thiệt hại về tài sản, sinh mạng, và tiềm năng phục hồi để đi lên của đất nước hậu độc tài.
Hai là cung cấp giải pháp cho những người dân tay không có thể tháo gỡ cả một bộ máy độc tài có đầy đủ vũ khí và phương tiện.

Ba là vận dụng được sự ủng hộ, cả tinh thần và vật chất, từ cộng đồng quốc tế. Trong thế giới ngày nay, từ nỗi lo sợ vô tình tạo ra những nhóm khủng bố mới như Al-quaida, việc viện trợ vũ khí cho những nhóm phiến quân là điều hầu như không thể xảy ra. Nhưng hỗ trợ cho những dân tộc đấu tranh để tự giải phóng mình qua các hình thức đấu tranh bất bạo động thì lại tương đối dễ dàng vì phù hợp với xu thế dân chủ hóa toàn cầu hiện nay à không đẻ ra các phó sản tai hại.

Mặc Lâm: Thời gian và giới hạn của sự kiên nhẫn có phải là kẻ thù của chủ trương bất bạo động?

Lý Thái Hùng: Nhìn từ xa thì có vẻ đúng như vậy. Cái giá phải trả để được các lợi điểm nêu trên là phải chấp nhận một cuộc đấu tranh lâu dài.

Nhưng đến gần sự việc hơn và so sánh các kinh nghiệm của hình thức đấu tranh bất bạo động trên thế giới thì việc kéo dài thời gian không nhất thiết là bất lợi, nếu chúng ta biết cách khai dụng nó để đạt kết quả tốt nhất.
Trong mọi cuộc đấu tranh chống độc tài áp bức, thường có hai giai đoạn: tháo gỡ độc tài và lập nền dân chủ.

Ông Lý Thái Hùng đang trả lời báo chí tại Hội Nghị Dân chủ Hóa Á Châu ngày 26/11/2011. Courtesy viettan.org

Cốt lõi của giai đoạn lập nền dân chủ là nhờ vào các đoàn thể xã hội dân sự, tức một xã hội mà phần lớn thẩm quyển giải quyết phải nằm trong tay người dân. Vì thế mà xã hội dân sự bắt buộc phải có thời gian thì mới phát triển được.

Nếu trong giai đoạn tháo gỡ độc tài mà chúng ta có thể cùng lúc phát triển nhanh chóng xã hội dân sự thì sẽ vừa rút ngắn được giai đoạn đặt nền dân chủ hậu độc tài vừa giảm thiểu rất nhiều xác suất có thế lực độc tài mới xuất hiện.

Chúng ta thử so sánh trường hợp Ba Lan và Ai Cập. Ba Lan phải đi qua tiến trình đấu tranh lâu dài để soi mòn sức mạnh của guồng máy độc tài và có thời gian để gia tăng dần thẩm quyền của người dân. Kết quả là tiến trình đặt nền dân chủ nhanh chóng và bền vững hơn. Người dân Ba Lan đã tự tin đến độ cho phép cả tàn dư cộng sản trở lại hoạt động trong thể chế dân chủ và cho thấy họ không có khả năng xây dựng đất nước.

Trong khi đó, Ai Cập thành công rất nhanh trong giai đoạn đấu tranh tháo gỡ độc tài nhưng rất tiếc chưa kịp phát triển đủ nền tảng xã hội dân sự mà phải dựa nhiều vào một vài lực lớn như quân đội hay tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo. Kết quả là độc tài mới đã liên tục xuất hiện, tạo ra một số bất ổn.

Để tránh sự sốt ruột về thời gian và khai dụng hiệu quả, chúng ta cần quan tâm đến 3 yếu tố nữa:

Thứ nhất là giữ vững kỷ luật. Đây là chìa khóa thành công của mọi cuộc phản kháng chính trị. Sẽ có những thành phần trong lực lượng bất bạo động mất kiên nhẫn và muốn chuyển sang cách giải quyết dùng bạo lực.

Thứ hai là cần phân tích và cho thấy các tiến triển của các nỗ lực đấu tranh so với 6 tháng trước, một năm trước. Đặc tính của bất bạo động là tiệm tiến và liên tục nên nhiều khi thành quả ngay đó mà chúng ta không thấy vì quá quen mắt.

Thứ ba là cần có kế hoạch chủ động tấn công vào guồng máy bạo quyền trong mọi lãnh vực. Chúng ta phải cho nhau thấy bất bạo động không phải là loại đấu tranh thụ động, chờ đợi sự từ tâm, sự thay đổi lòng dạ của những kẻ cai trị. Ngược lại bất bạo động có mục tiêu và cách làm rất quyết liệt, đó là tháo gỡ toàn bộ hệ thống cai trị độc tài.

Thúc đẩy tự diễn biến

Mặc Lâm: Bất bạo động là một hình thức thúc đẩy tự diễn biến và vì thế mà nhiều chế độ độc tài rất sợ nó. Theo ông thì phải vận dụng lợi thế này ra sao?

Thúc đẩy tự diễn biến chỉ là một phần nhỏ trong đấu tranh bất bạo động và thường là điểm mà phương pháp này dễ bị hiểu lầm.

An ninh mặc thường phục đàn áp, bắt bớ người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội hôm 02/6/2013. AFP photo

Nhìn hình ảnh những người theo bước ông Ghandi hay Mục sư Luther King chịu đòn của cảnh sát Anh, cảnh sát Mỹ thời đó, chúng ta dễ có ấn tượng những người tham gia bất bạo động chủ trương ráng chịu trận, chịu đòn để mong thay đổi suy nghĩ của những người đánh họ. Thực ra đó không phải là chủ đích của ông Ghandi, của Mục sư King và của phương pháp bất bạo động nói chung.

Chúng ta đều biết những kẻ đang cầm quyền cai trị bằng mọi giá không vì từ tâm mà thay đổi chính sách. Trong đấu tranh bất bạo động, chúng ta nhắm vào những nhân sự cốt lõi chi phối các trụ cột chống đỡ chế độ hơn là những kẻ thừa hành, ở vòng ngoài, hưởng ít quyền lợi, thường phải thi hành các lệnh độc ác từ các vòng trong, và bị dân oán ghét nhiều nhất.

Từ cách nhìn đó, chúng ta dễ thấy đâu là những đối tượng mà toàn dân có thể lôi kéo về phía dân tộc và rời xa ra khỏi guồng máy chế độ. Nếu chưa rời bỏ được thì chỉ làm việc cho có hình thức thôi và tránh xa các việc ác. Và đâu là những đối tượng mà toàn dân cần tấn công, cần vạch trần sự gian ác của họ trước công luận thế giới và cả nước.

Khi người dân cả nước chống đối liên tục và cả thế giới xa lánh những lãnh đạo độc tài, trong lúc hệ thống cán bộ bên dưới không làm theo hay chỉ làm cho có, thì bệ cai trị của họ thực sự lung lay và họ phải tính tới đường tẩu thoát. Và đó là cái ngày mà mọi lãnh tụ độc tài đều sợ hãi.

Mặc Lâm: Bài học Ukraina vừa qua ông trích ra điều gì quan trọng nhất về bất bạo động ban đầu và bạo động theo sau nó? 

Lý Thái Hùng: Thưa anh, thực tế cho thấy khó mà kiểm soát được hoàn toàn mọi cuộc đấu tranh quần chúng để giữ nó hoàn toàn bất bạo động. Nhưng tôi không tin và cũng không có chỉ dấu gì là lực lượng chỉ đạo cuộc đấu tranh tại Ukraina đã quyết định chuyển hướng từ bất bạo động sang bạo động.

Một số người mất kiên nhẫn và quá phẫn nộ trước các trò bạo động của công an đến độ trả đũa bằng bạo động là điều khó tránh. Bên cạnh đó là điều mà chúng ta thấy ở khắp nơi, ngay cả tại Vinh, Nghệ An. Đó là công an cố tình đóng vai dân chúng làm những hành vi bạo động để công an sắc phục có lý cớ xông vào bạo hành dân chúng.

Hiện giờ khó mà biết ai trong lực lượng dân chủ thực sự đã bạo động nhưng một điều rất rõ có thể rút ra là các hành vi bạo động đã không loại trừ được nhà độc tài Yanukovych. 

Nhưng các áp lực bất bạo động lên các thành viên quốc hội đã truất quyền được Yanukovych và ông ta phải bỏ chạy sang Nga vào giờ phút cuối.

Mặc Lâm: Và rồi hậu Ukraina như ông thấy cho kinh nghiệm gì nếu xảy ra tại Việt Nam?

Lý Thái Hùng: Vấn đề hậu Ukraina còn quá nhiều diễn biến phức tạp. Nó không chỉ là vấn đề nội chính của Ukraina mà còn liên hệ đến việc Nga đưa quân chiếm đóng vùng tự trị Crimea trước sự lên án mạnh mẽ của Liên Âu và Hoa Kỳ. Có lẽ còn quá sớm để rút thành những bài học cho Việt Nam.

Tuy nhiên, sự kiện Ukraina nói chung một lần nữa cho thấy sức mạnh của phương pháp bất bạo động và mức hữu hiệu của nó đối với một chế độ độc tài với đầy đủ công an, vũ khí, và được sự hỗ trợ lớn từ nước Nga.

Ngoài ra, qua sự kiện Ukraina, một câu hỏi lớn cho người Việt chúng ta là tại sao Ukraina thoát ra khỏi độc tài năm 2005 rồi lại rơi trở vào vòng độc tài cho đến lần này. Ngoài yếu tố chưa có thời giờ để phát triển xã hội dân sự như đã nói ở trên, còn yếu tố nào khác nữa không? Tôi nghĩ là chúng ta cần quan tâm hơn vụ Ukraina trong thời gian tới.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nonviolent-struggle-difficult-way-ml-03162014074319.html

Tuyên

PHẢI HÀNH ĐỘNG KHẨN CẤP NẾU KHÔNG MUỐN MẤT NƯỚC!


On Tuesday, August 11, 2015 12:44 PM, Hi Pham <> wrote:

 

PHẢI HÀNH ĐỘNG KHẨN CẤP NẾU KHÔNG MUỐN MẤT NƯỚC!

CSVN sắp ký thoả ước giao Bản Giốc cho Tàu để ‘cùng khai thác’

Bảng Đỏ (Danlambao) - Giữa lúc dư luận đang sôi sục trước thông tin xây tượng đài nghìn tỷ ở Sơn La, nhà cầm quyền CSVN đã âm thầm đàm phám với Trung Cộng về việc ký kết hiệp định ‘cùng khai thác’ thác Bản Giốc, thuộc chủ quyền Việt Nam.
Cứ với đà này, không chừng một ngày Trung Cộng sẽ đòi CSVN ‘cùng khai thác’ cái lăng Ba Đình. Vì dù sao Trung Cộng có đầy đủ tài liệu để chứng minh Hồ Chí Minh - tức thiếu tá Hồ Quang là một người Tàu.
...............................................................

Chỉ còn 5 năm nữa thôi, bọn việt gian cọng sản sẽ dâng toàn bộ Đất Nước Việt Nam cho tàu khựa theo hạn kỳ hiệp ước bán nước Thành Đô!
Đó là lý do vì sao mà phải hô hào, vận động toàn dân vùng dậy, tự cứu mình, cứu nước, kẻo không còn kịp nữa!

VÌ SAO MÀ PHẢI GẤP RÚT TRIỆT HẠ NỘI GIAN VC?

Trích nick bieu tinh chong tau ( Danlambao ): " Ở các đồn bót này , có nhiều người dân VN nghi là nơi phát xuất của những côn đồ gây bạo loạn , xong chúng lại rút vào đồn , ngoài tầm kiểm soát cũa công an Việt Nam. Các đồn bót này bao gồm Bo xit Lâm Đồng , Gia Rai vân vân. “ ( ngưng trích )

Đây, một số đồn bót " quan yếu " của chệt khựa gây chết người mà nội gian việt cọng dung túng nhiều năm nay:

1/ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC: Các đồn bót chệt khựa " khống chế các cao điểm trọng yếu trên biên giới " phía Bắc dưới dạng công nhân khai thác " rừng đầu nguồn."

2/ NÓC NHÀ CAO NGUYÊN VIỆT NAM: hàng vạn " Đặc công tàu đỏ " trấn đóng trên nóc nhà Tây nguyên dưới dạng công nhân khai mỏ quặng bauxite.

3/ DUYÊN HẢI VIỆT NAM: Suốt dọc duyên hải VN, từ Móng Cáy tới tận mủi Cà Mau, trên các công trình trọng điểm do việt gian bán nước giao cho các nhà thầu tàu khựa thi công, tại mỗi nơi có hàng ngàn đặc công chệt hiện diện.

4/ ĐẠO QUÂN THỨ NĂM NỘI TUYẾN: Đó là các khu phố chệt chinatown, tiêu biểu " hoành tráng " như Đông đô Đại phố, Bình Dương, rải rác khắp nơi từ Bắc chí Nam, Hội An, Đà Nẳng, Vũng Án, Hà Tĩnh … v... v...

5/ CÁC Ổ GIÁN ĐIỆP TRÊN BIỂN: Các bẻ nuôi cá " ổ gián điệp chệt " cắm chốt ngay cửa Vịnh Cam Ranh và cả Vũng Rô, Quảng Nam.
Chỉ kể sơ sơ các trọng điểm, các ổ nội tuyến biệt lập còn chưa tính đếm!

VỀ CÁC TRỤC TIẾN QUÂN: Theo “ Kế hoạch Kinh tế “ Hai hành lang – Một vành đai “ tàu khựa và việt cọng thi công mở rộng hai xa lộ cao tốc: Một từ Lào Kay chọc thẳng xuống Hà Nội, Hải Phòng. Một từ Móng Cáy đâm thẳng xuống Hà Nội. Khi lâm chiến, xe tăng bát nhất tàu cọng chạy phom phom, chỉ vài ngày là có mặt ở Hà Nội và cả Hải Phòng, bảo vệ cánh quân từ ngoài biển đổ bộ vào!
Xem vậy thì đủ biết thân phận đảng việt gian việt cọng như cá nằm trên thớt.
Tàu khựa mà muốn dứt điểm " nước việt cọng " thì như trở bàn tay!

Do đó mà nóng lòng sốt ruột!
Cứu nước là việc VÔ CÙNG KHẨN CẤP, phải mau lẹ triệt hạ NỘI GIAN VIỆT CỌNG.
Triệu tập Quốc dân Đại hội.
Thành lập chánh phủ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI ( ÉTAT PROVISOIRE DU VIETNAM ), chính danh.

Khẩn cấp kêu gọi Liên Hiệp Quốc, trước hết là Hoa Kỳ giúp đem hạm đội 7 Thái Bình Dương vào CĂN CỨ CAM RANH giúp trấn giữ Biển Đông.
Thiết lập căn cứ Quân sự nhằm RĂN ĐE – BE BỜ ( Deterrent - Containment ) ngăn chệt khựa tiến xuống phía Đông Nam Á.

Đó là hành động khẩn cấp cứu nguy Đất nước trong lúc nầy, trước khi việt gian việt cọng ĐẦU HÀNG, giao Đất nước vào tay tàu khựa!

Nguyễn Nhơn



__._,_.___

Posted by: loc huong 

Thursday, 13 August 2015

HẠNG KHÔNG BIẾT NHỤC


Thái-Dương Thành, AUG-12-15

Ông Matthew VNT (GA) kính,
- Quả khá lâu (nghĩ chắc là vài năm ?) vắng bặt tin ông. Thôi thì mừng tái ngộ. Kính nguyện cầu ơn Trên ban phước lành và vạn sự như ý cho ông cùng quý quyến.
- “Loạn xà-ngầu” theo lời ông thốt ra quả không ngoa ông ạ ! Chư vị độc-giả dư biết thảm-trạng của các Cộng-đồng rồi, mình có nói thêm cũng chỉ làm nhàm mắt mọi người thôi.
- Kính xin có món quà tái ngộ cùng ông ;

HẠNG KHÔNG BIẾT NHỤC

Nhục thay cho một lũ con người.
“Biên-Bản Thành-Đô” biết đến nơi.
Nước bị phụ-dung đau kiếp kiếp ...
Dân làm nô-lệ nhục đời đời ...
Đồng phò đất Mẹ người đôi tiếng.
Cùng trợ quê Cha kẻ ít lời.
Cũng chả ma nào tỏ ý-chí,
Chỉ siêng chửi bới mép mồm hôi.

TDT, AUG-12-15
Ngô-Phủ

Ước chi :
Nhất trí toàn dân trừ Việt-cộng,
Đồng tâm cả nước đập Tàu-phù.
Ngô-Phủ
__._,_.___

Posted by: 

Wednesday, 12 August 2015

NHÂN DÂN BÌNH THUẬN ĐỐT XE LÃNH ĐẠO UBND, TẤN CÔNG "TỔNG HÀNH DINH" CỦA CÔNG AN BÌNH THUẬN - 15 Tháng 4 Năm 2015.

From: Ben Tran <
Date: 2015-04-16 9:01 GMT-07:00
Subject: NHÂN DÂN BÌNH THUẬN ĐỐT XE LÃNH ĐẠO UBND, TẤN CÔNG "TỔNG HÀNH DINH" CỦA CÔNG AN BÌNH THUẬN.
To:

NHÂN DÂN BÌNH THUẬN ĐỐT XE LÃNH ĐẠO UBND, TẤN CÔNG "TỔNG HÀNH DINH" CỦA CÔNG AN BÌNH THUẬN - 15 Tháng 4 Năm 2015.



Videos From Facebooker Tự Do Dân Chủ:

Người Dân Bình Thuận Tấn Công CSCĐ









From Facebooker Nguyễn Thùy Trang

Khách sạn Vĩnh Hảo là TỔNG HÀNH DINH của UBND huyện Tuy phong, Bình Thuận thuê để điều động Công An và CSCĐ đàn áp người dân Vĩnh Tân.

Vào đêm 22 giờ tối ngày 15-4, hằng ngàn người dân dùng gạch, đá và "bom xăng" tự chế ném vào CSCĐ và Công an Bình Thuận. Một số đông Công An đã trốn chạy khỏi hiện trường mang theo hằng chục Công An khác bị thương vong đi cấp cứu bằng xe máy vì đoạn đườ...ng Quốc Lộ 1A bị chặn, không còn đường cho xe cấp cứu tiến vào.

Theo nguồn tin người dân địa phương cho biết thì có ít nhất là 30 công an bị thương và bị phỏng nặng vì trúng bom xăng và gạch đá. Cuộc tiến Công của nhân dân Bình Thuận đã đẩy lùi Công An và CSCĐ ra khỏi hiện trường vào lúc 22 giờ 30 tối cùng ngày.


Ngay sau đó thì hằng ngàn người dân đã kéo đến khách sạn Vĩnh Hảo (cách nhà máy khoảng một cây số), nơi đây là "tổng hành dinh" của lãnh đạo UBND Bình Thuận và Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thuê để điều động Công An đàn áp người dân biểu tình.

Ba chiếc ô tô của các lãnh đạo UBND đậu tại khách sạn gồm Mercedes, Ford và BMW đã bị đập phá hư hỏng, khu vực khách sạn bị đập phá tan nát một phần.


Ông S., chủ khách sạn, cho biết mình đang đi công tác ở Bến Tre và trước đó có đồng ý cho đoàn công tác của Huyện ủy, UBND huyện Tuy Phong mượn khách sạn để làm nơi giải quyết vụ người dân phản ứng vụ Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Theo ông S., cho biết người dân biểu tình đang siết chặt vòng vây và tuyên bố sẽ thiêu rụi khách sạn.

Cho tới giờ phút nầy thì nhiều người dân tạm thời rút lui vào bóng tối, tiếp tục sử dụng "Du Kích Chiến", lúc ẩn, lúc hiện đem chướng ngại vật ra chặn xe quốc lộ 1A làm cho con đường bị kẹt dài trên 50km.

__._,_.___

Posted by: <vneagle_1

Wednesday, 5 August 2015

VN ĐAI HỌA DIỆT VONG ĐÃ ĐẾN, QUA SỰ KHỦNG BỐ CỦA TRUNG CỘNG, LÀO,MIÊN TỪ CÁC ĐẬP THỦY ĐIỆN



--
Kính Chuyển
MG

 VN ĐAI HỌA DIỆT VONG ĐÃ ĐẾN,
QUA SỰ KHỦNG BỐ CỦA TRUNG CỘNG, LÀO,MIÊN
TỪ CÁC ĐẬP THỦY ĐIỆN
MƯỜNG GIANG


            Năm 2006, Cao Guangjing, phó giám đốc quản lý công trình thủy điện của Hoa Lục, đã tuyên bố với báo chí trong và ngoài nước, rằng Trung Cộng sắp hoàn thành Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp, lớn nhất thế giới, trên sông Dương Tử và hãnh diện xác nhận : Ðây là một kỳ quan cũng như biểu tượng kinh tế của Tàu, trong thế kỷ XXI.

            Có điều lạ trong lần khoe tốt này, ngay chính đương sự cũng không dám khẳng định, công dụng của đập thủy điện trên tốt xấu thế nào, mà chỉ nói bâng quơ rằng phải chờ tới những ba chục năm sau, hay đúng hơn phải coi nó có thể ngăn chống được sự tàn phá hằng năm của lũ lụt thường trực trên sông Dương Tử, lúc đó mới có thể kết luận.

            Câu chuyện làm cho người ta nhớ lại Vạn Lý Trường Thành, xưa nay ai cũng nói do Tần Thủy Hoàng xây dựng trước Thiên Chúa giáng sinh, từ lâu được đanh giá là một công trình kiến trúc vĩ đại, chẳng những của nước Tàu, mà còn là của nhân loại. Tuy nhiên huyền thoại này, vào năm 1969 đã bị đánh đổ, bởi Arthur Waldron , giáo sư khảo cổ tại Trung tâm nghiên cứu về Ðông Á, thuộc Trường Ðại học Harvard (Hoa Kỳ).

            Trong tác phẩm ‘ The great wall of China ‘ , trình bày những nghiên cứu lịch sử và khảo cổ tại chổ sau nhiều năm đi khắp nước Tàu, cuối cùng tác giả đã khẳng định rằng Vạn Lý Trường Thành, đã tồn tại suốt bao chục thế kỷ qua, thực chất chỉ là huyền thoại. Theo ông, từ năm 700 trước Tây lịch tới nay, khắp nước Tàu đã có rất nhiều thành lũy được xây dựng rãi rác mọi nơi, mọi thời. Nên câu chuyện bức tường thành được kiến trúc duy nhất thời nhà Tần, là không đúng sự thật. Ðể chứng minh,tác giả dựa vào lịch sử Trung Hoa, từ thời nhà Hán cho tới thế kỷ thứ XIII, khi Nhà Nam Tống bị quân Mông Cổ xâm lăng và tiêu diệt, cho thấy Tàu lúc đó không hề có một bức tường thành nào cả, nên đã không thể ngăn cản được vó ngựa trường chinh của Thành Các Tư Hản ở phương Bắc. Ngoài ra ông còn dựa vào các tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Hoa qua bao thời dại, xác nhận các văn nhân lúc đó, chẳng hề xử dụng tới danh từ nào đồng nghĩa với ‘ The great wall’, mà Tây phương chỉ mới dùng sau này.

            Ngay đến tài liệu phòng thủ của nhà Minh (1368-1644), cũng không hề nhắc tới Vạn Lý Trường Thành. Mãi đến nửa thế kỷ thứ XVI, trước nguy cơ đe dọa của các dân tộc du mục phuơng Bắc như Mãn, Mông, Tạng.. đã làm cho các Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh, mới nghĩ tới việc xây dựng Trường Thành, mục đích phân biệt ranh giới địa lý và nhân vân của Trung Nguyên với các dân tộc trên. Ðó chính là hình ảnh mà người Tây phương đầu tiên đã mang tới cho thế giới bên ngoài, hồi thế kỷ XVIII và phổ biến tới ngày nay. Còn huyền thoại về Vạn Lý Trường Thành do Tần Thủy Hoàng xây dựng, theo Waldron cũng không phải phát xuất từ sách vở của người Tàu, mà được Mao Tôn Cương, hồi thế kỷ XIX do các nhà thám hiểm và khảo cổ Châu Âu. Riêng nhũng ghi chú về Trường Thành, trên bản đồ mà Bắc Kinh phổ biến hiện nay, cũng là sản phẩm của các Giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, thuộc Dòng Tên, vào thời Nhà Thanh (1644-1912) . Tóm lại, theo các nhà nghiên cứu trong hội nghị quốc tế vừa được tổ chức tại Bắc Kinh, thì Vạn Lý Trường Thành , phần lớn được xây dựng từ thời Nhà Minh. Còn quan niệm cho rằng nhửng thành lũy thời Chiến Quốc, được nhà Tần nối lại với nhau, thành bức Trường Thành, ngày nay kể cả người Tàu vẫn nghi ngờ về phương diện khảo cổ, còn các sử gia thì nói đây là sự giả định, vì không có tài liệu nào minh chứng.

            Nhưng đó là chuyện của nước Tàu, nó chỉ liên quan đến chúng ta, là liệu đập thủy điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử, có ảnh hưởng gì tới những đập thủy điện khác, mà Trung Cộng đã xây dựng trên thượng nguồn của sông MeKong và Hồng Hà,trong tỉnh Vân Nam, trước khi chảy vào lãnh thổ nước ta, được đánh giá như là một sự khủng bố trắng trợn, đối với vận mệnh của Dân tộc VN. Ðây là nguy cơ trước mắt, được cả thế giới thấy rõ, cho dù Ðảng VC đang đô hộ cả nước, vì sợ Tàu, nên đã cố tình bưng bít nội vụ một cách công khai.  

            Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xữ dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phat nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược,liên quan  tới sự sống còn của dân tộc.

            Ai có thể ngăn được sự phẩn uất , trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong ‘ Ðây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được , ai dám ngăn cản ‘.

            Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Ðại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa.

            Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Ðà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết., một sự kiện đáng làm trước hết hơn là phung phí ngân khố quốc gia, để lãnh tụ và ca sĩ quốc doanh xuất ngoại làm trò cười cho đồng bào tị nạn khắp nơi trên thế giới.

1- ÐẬP THỦY ÐIỆN : VŨ KHÍ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG .

            Giang Nam là tên gọi của lưu vực hạ nguồn sông Dương Tử, do nhà Thanh (1644-1912) đặt ra, gồm các tỉnh Giang Tây, Giang Tô và Triết Giang. Miền này thời Ðường,Tống được gọi là Giang Châu, nguyên là đất đai của Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt,Âu Việt và Lạc Việt..), thủ công tinh xảo, dân trí thanh lịch, non nước hữu tình.

            Sông Dương Tử còn có tên là Trường Giang, đứng thứ ba trên thế giới sau sông Amazone (Nam Mỹ) và sông Nil (Ðông Phi), có chiều dài 6380km, phát nguyên tại vùng rừng núi Thanh Hải (Tây Tạng), từ trên độ cao 6600m, chảy qua phía tây Tứ Xuyên, xuống phía bắc Vân Nam, rồi đổi hướng chảy ngược lên phía đông Tỉnh Tứ Xuyên , ngang qua các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Giang Tô và ra Biển Ðông tại Hoàng Hải. Nếu tính luôn các phụ lưu, chi nhánh chằng chịt khắp miền Hoa Trung, thì chiều dài của sông Dương Tử lên tới 80.000 km, với hơn 12 triệu dân, gồm 55 sắc tộc, sinh sống ở hai bên bờ sông với đủ nghề.

            Trên thượng nguồn, sông Dương Tử có 3 khe núi lớn gồm 25 thác đổ, nhiều nơi nước chảy xiết nhất là vào mùa mưa, khiến cho các ghe thuyền xuôi ngược dễ bị chìm vì đá ngầm. Ðó là hẽm Kingtanxia dài 5km, hẽm Wuxia dài 25km và hẽm Xilingxia dài 47km., tuy ngày nay đã được nạo vét nhưng tàu qua lại vẫn phải có hoa tiêu hướng dẫn để tránh nguy hiểm.

            Lưu vực sông Dương Tử hiện nay có hơn 400 triệu người sinh sống. Ngoài ra vùng này còn có 5 hồ lớn, thường đước nhắc nhớ trong các tác phẩm thơ văn của Trung Hoa . Phân Dương Hồ, chứa nước ngọt , rộng tới 5000 km2, nằm trong tỉnh Giang Tây, gần thành phố Vũ Hán. Ðộng Ðình Hồ có các sông Tiêu và Tương đổ nưóc vào và thông với Trường Giang qua sông Hán. Hồ nằm phía tây tỉnh Hồ Nam,nổi tiếng với Nhạc Dương Lầu, măng tre Thần Châu và quít ngọt Ðộng Ðình Hồng. Thái Hồ chứa nước mặn nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây. Sào Hồ và Tây Hồ .

+ ÐẬP THỦY ÐIỆN TAM HIỆP TRÊN SÔNG DƯƠNG TỬ :

            Tháng 12-1994, Trung Cộng chính thức khởi công xây dựng Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp (Three Gorges Dam), trên khúc sông Dương Tử , chảy trong tỉnh Hồ Bắc, vừa để khống chế nạn lụt hàng năm, đồng thời xây dựng một nhà máy thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 12.000 MW. Ðể thực hiện công trình trên, đảng cộng sản đã đuổi hơn 1,5 triệu người dân bản địa, đồng thời làm xáo trộn sinh hoạt của 20 thành phố lớn nhỏ trong vùng.

            Tam Hiệp, địa điểm được chọn để xây dựng đập thủy điện, là tên một khúc sông Dương Tử dài hơn 200km, từ phía tây tỉnh Tứ Xuyên, chảy qua phía đông tỉnh Hồ Bắc, được coi như điểm nối của vùng thung lũng Tứ Xuyên với các đồng bằng miền Hoa-Trung, phía dưới hạ nguồn. Khúc sông này chảy qua ba hẽm núi lớn và 25 thác đổ. Theo nhận xét của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước, thì dự án Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp tuy đã được manh nha từ thời Dân Quốc, do Tôn Dật Tiên đề xướng. Nhưng bị các hội bảo vệ môi trường sinh thái địa cầu chống đối, vì nó sẽ hủy diệt vĩnh viễn cãnh quan thiên nhiên trong vùng, đồng thời xóa tên 140 thành phố lớn nhỏ, 4500 làng mạc, 30.000 ha đất trồng trọt, hằng ngàn di tích lịch sử và tiêu phí một ngân khoản khổng lồ, mà không chắc đạt được kết quả mong muốn.

            Với nước Tàu, từ trước tới nay sông Dương Tử là nguồn nước tưới cho cả khu vực đồng bằng Hoa Trung, miền đất cá và gạo, chiếm nửa tổng sản lượng của cả nước. Nhưng đồng thời sông Dương Tử cũng là tai ương ngàn năm của Hán Tộc, riêng trong thế kỷ XX lụt lội đã gây cho hơn 300.000 dân chúng trong vùng thiệt mạng. Giống như sông Mekong, sông Dương Tử cũng phát xuất từ Tây Tạng, chảy qua khu vực Tam Hiệp, trước khi vào thành phố Trùng Khánh, được coi như lớn nhất hiện nay tại Hoa Lục.

            Từ nhiều lý do, trong đó quan trong nhất cũng vẫn là mục tiêu chính trị,khiến cho Bắc Kinh đã nhắm mắt lao vào một công trình rất tốn kém về tiền bạc, sức người lẫn thời gian,gây ảnh hưởng nặng nề đến vấn đề tâm lý, khi đàn áp đuổi dân, phá hoại các công trình kiến trúc bao đời trong vùng. Thực hiện được đập thủy điện này, về quốc tế Trung Cộng sẽ hãnh diện có thêm một kỳ quan, sau Vạn Lý Trường Thành. Về kinh tế, Ðảng Cộng Sản nuôi hy vọng, nhờ nó giúp mức phát triển 11% hàng năm qua nguồn cung cấp điện cho công nghệ và sinh hoạt.

            Ðây là một cái đập khổng lồ , kinh phí dự chi tốn khoảng 30 tỷ đô la, thực hiện trong 14 năm. Chiều cao của dập 607 bộ, chiếm một diện tích hơn 1 dặm vuông., bao gồm một hồ chứa nước dài 370 dặm và một hệ thống khóa đặc biệt : Hút nước từ các nguồn nước khác khi thiều, cũng như xã nước vào mùa lụt, vừa giúp sự giao thông trên sông Dương Tử, đồng thời vét vơ nước từ các con sông khác, qua hệ thống kênh đào, để tưới cho các vùng đất khô hạn xa xôi ở phía tây.

            So với các đập thủy điện khác trên thế giới, dập Tam Hiệp không cao và rộng hơn nhưng lại trội nhiều về sức mạnh, với 26 Turbin mà trọng lượng mỗi chiếc 400 tấn/1 chiếc, sẽ tạo ra 18.200 magawatt điện, công suất tương đương với 18 nhà máy điện nguyên tử. Ðập này mạnh hơn các đập Itapu (giữa Brazil và Paraguy có công suất 12.600 megawatt ), dập Guri ở Venezuela có 10.300 megawatt, dập Grand Coulee ở Colorado của Mỹ có 6809 megawatt và đập Sayano Shushensk ở Nga với 6400 megawatt.

            Theo nhận xét của thế giới, Trung Cộng đã tốn hết 75 tỷ Mỹ kim cho công trình vĩ đại này (chứ không phải 19 tỷ như tuyên bố của đảng) . Vì mục tiêu chính trị, Trung Cộng không cần biết tới tính khả thi và hiệu quả kinh tế của dự án, hầu như đều bị sự phê bình chỉ trích của các nhà đầu tư và tài chính quốc tế. Bởi thế nên không làm lạ khi nghe Phó giám đốc xây dựng đập là Cao Guangjing, nói rằng muốn biết đập có hoàn hảo hay không, phải đợi tới 30 năm sau mới thấy được.

            Chưa hết, Trung Cộng còn cho biết sau khi hoàn tất đập Tam Hiệp vào năm 2008, Ðảng lại tiếp tục xây thêm 10 đập khác trên thượng nguồn sông Dương Tử, nối tiếp vùng Tam Hiệp. Ðiều lo lắng nhất của người Tàu hiện nay, là làm thế nào để có thể giảm nhanh chóng một biển nước khổng lồ , luôn được chứa trong hồ với độ cao từ 512-574 ft, khi mùa mưa tới. Thãm kich về đập thủy điện Banqiao ở Hồ Nam, vào năm 1975 mưa nhiều vở đê kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống đập chung quanh, gây lụt lội làm chết hơn 230.000 người. Nhưng Trung Cộng đã ém nhẹm tới gần đây thế giới mói biết. Ngoài ra đập thủy điện Tam Hiệp chưa khánh thành nhưng nhiều dấu hiệu bể nứt đã thấy xuất hiện. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì trong thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Tàu,Nga, VC,Bắc Hàn, Cu Ba), gần hết ngân khoản của các công trình xây dựng, đều bị cán đảng và quan quyền lớn nhỏ, móc ngoặc với nhà thầu, chia, chặt, xén, bỏ túi.. cho nên đâu có kiến trúc nào được toàn vẹn, vì vậy chưa bàn giao đã lung lay hay sứt mẽ là cái chắc.

+ HỆ THỐNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VÀ HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN :

            Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Ðông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Cũng vì dòng sông có sự liên quan của nhiều nước, nên đã có chương trình hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong, do nhiều tổ chức và các định chế tài chính quốc tế tham gia. Trên lý thuyết, đã có tới sáu chương trình và dự án phát triển con sông trên. Chương trình Ủy ban sông Mekong (MRC), do LHQ khởi xướng từ năm 1957, nhằm quản lý nguồn nước và tài nguyên của sông, được xúc tiến mạnh sau năm 1975, khi chiến tranh Ðông Dương lần 2 chấm dứt.

            Năm 1992, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại khởi xướng chương trình hợp tác sông Mekong, giữa các nưóc liên hệ (GMS), thúc đẩy sự đầu tư khai thác của các nước trong vùng, qua các dự án đầu tư do ADB chi phối. Năm 1993, Nhật Bản đề xướng diễn đàn phát triển toàn diện Ðông Dương (F&DI), chú trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng có sông Mekong chảy qua. Tiếp theo Nhật lại đưa thêm dự án AEM-MITI nhằm giúp Miến Ðiện, Lào, Kampuchia chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Cũng năm 1993, Thái Lan lại đề xướng chương trình hợp tác sông Mekong, nhằm phát triển khu vực sông chảy qua các nước Tàu, Miến Ðiện, Thái Lan và Lào.

            Tháng 12-1995, Tân Gia Ba và Mã Lai lại đề xướng dự án hợp tác phat triển sông Mekong của các nước thành viên Asean có sông Mekong chảy qua, ưu tiên là đặt hệ thống đường sắt.. Nhưng tất cả đều là lý thuyết, vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Trung Cộng đã ỹ mình nước lớn, nên đã bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Ðập Thủy Ðiện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN.

            Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam. Theo tài liệu chính thức của Tỉnh Ủy Vân Nam và lời xác nhận của Hiroshi Hiro, người Nhật, một chuyên gia về sông Mekong, cho biết Trung Cộng đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này, đó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Ðại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Ðộ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng.

            Sông Mekong hay Dza-Chu (Nguồn nước của đá), phát nguyên từ cao nguyên phía đông Tây Tạng, dài hơn 4000 km, chảy về hướng Nam, băng qua những hẽm núi sâu và rừng núi hoang lạnh của tỉnh Vân Nam với cái tên Lan Thương Giang (Lancang Jiang). Riêng khúc sông chảy giữa biên giới Lào-Thái mang tên Mae Nam Khong. Tại Cam Bot sông lại có tên là Tonle Thom và cuối cùng Cửu Long Giang trong lãnh thổ VN.

            Trong cuốn sách ‘ Lan Thương Giang - Tiểu Thái Dương ‘ , do Vân Nam Nhân Dân Thư Xã ấn hành bằng tiếng Tàu, từ đầu tới cuối chỉ đề cao tới tiềm năng của sông cần khai thác, tuyệt nhiên chẳng thấy nói tới hậu quả nào do chuổi đập gây thiệt hại tới các nước ở hạ lưu. Ðiều này dễ hiểu,vì Trung Cộng luôn coi đó như một bí mật quốc phòng, thứ vũ khí môi sinh chiến lược, để khủng bố VN, quốc gia cuối cùng nơi dòng sông thoát ra biển.

            Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Ðại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm , làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Ðông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển.

            Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ , đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữa lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide.. gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá .

            Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Ðập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Ðập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đola.

            Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần.

2- ÐỒNG BẰNG VÀ SÔNG NGÒI VN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU :

            Diện tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Ðồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm., với diện tích 15.000 km2, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình.

+ SÔNG HỒNG HÀ : Phát nguyên từ rặng Ngụy Sơn, kế Ðại Lý Hồ trong tỉnh Vân Nam (Tàu), có chiều dài 1200 km, phần chảy trên đất Trung Hoa gọi là sông Ma Lung hay Nguyên Giang. Riêng 500 cây số trong lãnh thổ VN, được gọi là Nhĩ Hà, Hồng Hà hay Sông Thao.

            Sông vào địa phận Bắc Việt tại Hà Khẩu (Lào Kai), trước khi ra biển Ðông, đã tiếp nhận nhiều phụ lưu quan trọng như sông Lô ở tả ngạn. Sông này còn có tên là Thanh Giang, cũng phát nguyên từ bên Tàu và chảy vào VN tại Hà Giang, rồi đổ vào sông Hồng ở Việt Trì. Sông Lô còn có hai phụ lưu là sông Gầm va sông Chẩy thông với hồ Ba Bể.

             Sông Ðà bên hữu ngạn,cũng phát nguyên từ Vân Nam, chảy vào VN song song với sông Hồng và đổ vào sông này tại Việt Trì. Ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ khác, cũng đổ vào Nhĩ Hà như Nậm Pò, Nậm Na, Nậm Mấc, Ngòi Thia, Ngòi Lao ở thượng nguồn. Phía gần biển, có thêm các phụ lưu Sông Luộc, sông Ðuống, sông Ninh Cơ, Trà Lý.. Tất cả đã mang phù sa bồi đắp cho cánh đồng lúa mùa, miền Hạ Du, ngay từ thời Văn Lang lập quốc cho tới bây giờ. Từ Hà Nội lên Lào Kai, xuyên biên giới đi Vân Nam ,có con đường sắt được thiết lập từ thời Pháp thuộc, chay song song với tả ngạn sông Hồng, qua những nhà ga Bảo Hà, Trái Hút, Phố Lu.. mang đầy huyền thoại trong kho tàng văn học dân gian, về các câu chuyện ‘ Ma-Cọp ‘.

            Lào Kai là tỉnh địa đầu của miền tây bắc, chỉ cách Trung Cộng có cây cầu biên giới Cốc Lếu, nên trong cuộc chiến năm 1979, giặc Tàu gần như làm cỏ thành phố, mãi cho tới năm 1991 mới chỉ có 1700 gia đình trở về nhà cũ của mình.. Ngày nay nhờ chương trình du lịch Sapa và nhất là buôn lậu ,nên Lào Kai dân số gần 100.000 người. Thị xã nằm ngay trên ngả ba sông Nậm Thị từ Vân Nam đổ vào sông Hồng. Cầu Hồ Kiều dài 200m, ngăn đôi hai nước, bên này là Lào Kai, phía bên kia là thị trấn Hà Khẩu, thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam.

            Sông ra biền bằng cửa Ba Lạt và Trà Lý ở thị xã Thái Bình. Trước đây khi Trung Cộng chưa xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn của sông chảy trong tỉnh Vân Nam, thì Nhĩ Hà có lưu lượng rất lớn và thay đổi tuỳ theo mùa, từ 300m3/1 giây - 28.000 m3/1 giây nhưng trung bình là 700m3/1giây.. Nước sông dâng cao thường vào mùa mưa, tại Hà Nội có khi dâng cao tới 12m, trong khi mùa nắng mực nước chỉ có 2m.. Từ trước tới nay vùng Hoa Nam và Bắc Phần có nhiều mưa về mùa hè, làm cho mực nước sông Nhị dâng cao rất nhanh. Lúc trước tại Vân Nam, rừng chưa bị đốn để dựng đập nước, nên mùa mưa, phần nào giữ được nước tuôn từ thượng nguồn về.

            Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới , trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó , hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vở. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón.

            Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Ðuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường. do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra.

+ ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG :

            Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần : Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu vực này chiếm một diện tích 40.000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt :

            - Vùng phù sa nước ngọt : Từ nguồn sông chính tại Kampuchia, Mekong chảy vào Nam Phần bằng hai nhánh tại Châu Ðốc và Hồng Ngự, xuống tận Mỹ Tho, Bến Tre. Khu vực này chiếm một diện tích hơn 1 triệu Ha, phần lớn là vườn cây ăn trái đủ loại, mọc bạt ngàn theo hai bờ sông Tiền và Hậu, cùng với một hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện. Ðặc biệt giữa dòng sông thường có nhiều cù lao lớn nhỏ như Cồn Phụng, Lân, Qui tại Mỹ Tho, cù lao Ông Hổ ở An Giang, cù lao Tân Lộc (Thốt Nốt-Cần Thơ), cù lao Bình Hòa Phước tại Vĩnh Long..

            - Vùng phù sa nước mặn : Chiếm diện tích khoảng 900.000 Ha, bao gồm lưu vực các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau. Ðặc điểm vùng này là có nhiều rừng nguyên sinh ngập măn, nhiều khu vực tập trung hàng ngàn loại chim cò đủ loại tại Vàm Hồ (Ba Tri-Bến Tre), Bạc Liệu hay Chùa Dơi (Sóc Trăng)..

            - Vùng bán đảo Cà Mau : Nằm cuối miền Nam nước Việt, rộng chừng 1 triệu Ha và hằng năm được phù sa của sông Hậu, bồi đắp thêm làm cho Mũi Cà Mâu càng lấn ra biển từ 60 ố 80m. Tại đây còn nhiều khu rừng tràm, đước được dùng làm củi đốt từ xưa tới nay Khắp khu vực có nhiều Sân Chim Cò, Cốc hơn 40 loại, sống tại Ngọc Hiển, U Minh, Hòn Khoai. Ðây cũng là vựa tôm, cá và đặc biệt là mật ong nổi tiếng của Miền Nam.

            - Vùng Ðồng Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long Xuyên : Rộng 1 triệu ha, được coi như là những hồ chứa nước thiên tạo, vào mùa sông Tiền-sông Hậu lụt lội, nhờ vào năm miền trũng thấp. Trong số này quan trọng nhất vẫn là Ðồng Tháp Mười, với các khu rừng tràm Xẻo Quít (20 Ha), Tràm Chim (2441Ha).. có hơn 141 loài chim sinh sống, nhiều nhất là loài sếu đầu đỏ.

            Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu. Trong lãnh thổ VN, phía thượng nguồn, sông Cửu Long làm thành vùng trũng như những hồ chứa nước thiên nhiên trong mùa lụt. Về phía biển, đồng bằng được phù sa bồi đắp cao ráo, thành những giồng để cất nhà cửa, lập vườn cây ăn trái . Dòng sông cho nhiều tôm cá quanh năm, bù đắp phù sa như một thứ phân bón hữu to rất tốt cho đồng ruộng. Toàn vùng, Mỹ Tho được coi là lý tưởng nhất cho nghề nông vì đất đai phì nhiêu, sông rạch đầy tôm cá, người dân làm chơi ăn thiệt, cuộc sống sung túc, tạo thêm dân trí lễ nghĩa với các thú vui nghệ thuật, mà phát triển nhất nếp sống miệt vườn tao nhã qua đờn, ca, hát xướng, thơ ngâm, hò đáp khi chèo thuyền giả gạo.

            Sông Tiền Giang chảy ngang qua thành phổ cổ kính Mỹ Tho, trước khi ra biển bằng nhiều nhánh. Giữa những nhánh sông có các cù lao rộng lớn phì nhiêu, làm thành tỉnh Bến Tre nổi tiếng với rặng dừa xanh lơn nhất nước. Trường Trung Học danh tiếng Nguyễn Ðình Chiểu tại Mỹ Tho, được coi như là ngôi trường đầu tiên của người Việt tại Nam Phần, trong lúc Sài Gòn mới có ngôi trường Trung học dành cho con cái người Pháp (nay là trường TH.Lê Quy Ðôn) , lập hồi cuối thế kỷ XIX. Vào năm 1926, Sài Gòn mới có trường TH.Petrus Ký, dành cho người Việt.

            Ðất Gò Công sát biển, nổi tiếng với Ðức Từ Dũ (Mẹ ruột vua Tự Ðức nhà Nguyễn), căn cứ chống thực dân Pháp của anh hùng Trương Ðịnh (1863). Ngược về phía nam, xuyên QL4 (nay là QL1), trước khi đến cầu Mỹ Thuận (thay thế phà), hai bên đường lẫn bờ sông, nhà cửa san sát, xen lẫn với vườn đủ loại trái cây và đồng ruộng lúa nước xanh um ngút mắt.

            Qua cầu, quẹo về hướng biển non 10 cây số, là tới Vĩnh Long, miền đất hiền lành xinh đẹp nằm trên Sông Cổ Chiên, một nhánh của Cửu Long. Chợ tỉnh trải dài theo bờ sông bồng bềnh những giề Lục Bình hắt hiu trong màu phù sa làm cho nước vàng đục. Thành cổ xưa còn đó với cây đa cổ thụ, làm nhớ tới Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông.. người uống thuốc độc quyên sinh để đền nợ nước, kẻ thỉ rời bỏ quê làng chôn nhau cắt rút, dắt díu gia đình ra tận Bình Thuận tị địa vào năm 1867, khi thành Vĩnh Long bị thực dân Pháp đánh chiếm. Gần chợ nay vẫn còn Văn Thánh Miếu được lập ra thờ Khổng Tử, nhưng ngày nay người Việt đến cúng bái, gần như chỉ biết tới Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông mà thôi.

            Bên kia sông Hậu là thành phố Cần Thơ, sung túc bề thế và xinh đẹp chỉ thua Thủ đô Sài Gòn. nên xưa nay vẫn được đời xưng tụng là Thủ phủ của Miền Tây-Nam Nam Phần, phát triển ngay từ đầu thế kỷ XX, ngay khi miền Hậu Giang trở thành vựa lúa gạo nuôi sống cả nước. Nhờ vậy mà cả cánh đồng lau sậy, tràm được, cá sấu, muỗi mòng, giữa sông Hậu và Vịnh Phú Quốc, được khai thác, đào kênh, đắp đường, mở mang làng xóm, trù phú như ngày nay. Thời Pháp thuộc, Cần Thơ có Chi nhánh Ngân hàng Ðông Dương, Nhà máy Ðiện lực rất lớn, cung cấp điện cho các tỉnh lân cận. Trường Trung học Công lập Phan Thảnh Giản thành lập từ năm 1926,hơn trăm năm qua đã đào tạo không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước, trong đó không thể không nhắc tới Nhà Quân Sử nổi tiếng hiện nay tại hải ngoại là Pham Phong Dinh..

            Cuối nước Việt, về hướng biên giới,đầu tiên là Cảng Cá,nằm ngay Vàm sông Ông Ðốc, qui tụ nhiều tàu đánh cá lớn khắp vùng. Xa hơn là Ngư Cảng Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, nổi tiếng nhất nhì trong nước, ngang hàng với Ngư Cảng Phan Thiết-Bình Thuận. Biển ở đây cạn, nhiều bùn lại nhiều muỗi mòng nhưng ngược lại đầy tôm cá. Ngoài khơi Rạch Giá có hằng trăm đảo thuộc chủ quyền VN, trong đó có Hòn Tre diện tích lớn, dân đông.Kế bên là Hòn Sơn Rái nổi tiếng làm nước mắm cá biển

            Sát biên giới Việt-Kampuchia là Thị Xã Hà Tiên,phong cảnh hữu tình với Ðông Hồ, núi Tô Châu, ngôi chợ tuy nhỏ nhưng đây cổ kính. Ðối diện là Hải Ðảo Phú Quốc, lớn nhất VN, chuyên trồng tiêu, làm nước mắm, ngư nghiệp

            Từ Chợ Hà Tiên đi ngược lên dọc theo biên giới có Kênh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu đào vào thập niên 1920, thời Vua Minh Mệnh nhà Nguyễn. Kênh này như một thủy đạo, nối liền sông Hậu thông ra Vịnh Phú Quốc. Vùng này trũng thấp, đất phèn mặn, nên ruộng đồng hoàn toàn bị ngập, vào mùa lụt do sông Cưu Long dâng cao. Bảy Núi hay Thất Sơn bao gồm nhiều hòn lớn nhỏ, chạy dài trên 30km, mà đỉnh cao nhất là ngọn Núi Cấm (700m),mây trắng che mịt mù vào mùa đông, trong nuí có nhiều hang động thiên nhiên, trên sườn mọc đầy sắn, đậu, hoa quả và các cây thuốc Nam.

            Kế cận là Thị Xã Châu Ðốc, nổi tiếng ba miền là Miểu Thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, được xem là chốn linh thiêng, quanh năm có rất nhiều thiện nam tín nử tới hành hương cúng kính.. Chợ Châu Ðốc xây trên bờ sông Hậu, dưới sông tấp nập ghe thuyền. Phia bên kia sông có nhiều Làng Chàm Hồi giáo, chuyên sinh sống bằng ngư nghiệp và nghề dệt dệt tơ lụa.

            Thành phố Long Xuyên là thủ phủ của tỉnh An Giang, lúa gạo sung túc, đang phát triển mạnh nghề nuôi cá bè trên sông Hậu. Ðây là miền đất được mở mang sớm nhất ở Nam Phần, ngay từ năm 1700 khi Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh, được lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu, tới đây cũng cố biên giới, vì vậy các lưu dân từ Thuận Quảng theo chân đoàn quân vào đậy lập nghiệp rất đông đảo. Tại An Phú, đầu nguồn của sông Hậu trong tỉnh An Giang, nay còn sót lại Búng Bình Thiên, có diện tích rộng hơn 30.000 m2, là một vùng đất bị bỏ hoang vì nước sâu không thể trồng lúa được. Láng mọc đầy Sen và cỏ dại, là nơi chung sống của đủ loài thủy tộc, từ cá tôm, cho tới rắn rùa, sống dưới rừng củ co, bông súng, rau tràng.. cảnh sắc không gì thay đổi như từ hai ba thế kỷ trước. An Phú còn có tới 4 chợ trời biên giới và đông đảo người Chàm theo Hồi giáo cư ngụ.

            Sa Ðéc hiện nay chỉ là thị trấn, trong khi Cao Lãnh trở thành thị xã tỉnh lỵ của Ðồng Tháp. Nằm bên hửu ngạn sông Hậu, Sa Ðéc là vùng đất cổ, nổi tiếng với những vườn cây ăn trái của Nam Phần,nhờ khí hậu trong lành so với các tỉnh khác. Chợ Sa Ðéc đẹp, vùng lân cận nổi tiếng về sản xuất hoa hồng. Trên con đường từ chợ tới Bắc Vàm Cống, có hai làng nghề truyền thống là Nem Lai Vung và Chiếu Lấp Vò. Ngoài ra tại làng Ðịnh Yên, còn có một Chợ chiếu độc đáo, mà người điạ phương gọi là ‘ Chợ Ma hay Chợ Âm Phủ ‘, vì chợ chỉ nhóm họp hằng đêm từ 12 giờ khuya tới hừng sáng thì dẹp. Ðây là truyền thống đã có từ 100 năm qua, chuyên bán sĩ và lẽ hai loại chiếu ‘ Hà Niên’là loại chiếu bông vuông nhỏ và loại ‘ Vẩy Ốc ‘ màu trắng, bông được in bằng khuôn, làm rất công phu, để lâu không bị bay màu và lên mùi mốc.

            Ðồng Tháp Mười là vùng đất trũng, nhiều phèn, vào mùa lụt nước sông dâng cao tới 4m, cá tôm nhiều nhưng muốn có phải mua sắm dụng cụ mới khai thác được.. Tại đây còn có một loại lúa trời, mọc tự nhiên, ăn được nhưng không ngon. Trước đây Ðồng Tháp Mười coi như một đồng cỏ khổng lồ, ngày nay nhiều khu vực đã được khai khẩn để trồng lúa. Dân cư tứ xứ tới đây làm ăn rất đông, nhất là khu vực tiếp xúc với hai con sông Vàm Cỏ Ðông và Tây.

            Tại những tỉnh về phía Nam, nơi hạ nguồn của sông Hậu như Trà Vinh, Sóc Trăng, đồng bằng được phù sa bồi đắp, thành những giồng đất cao ráo, không bị úng lụt vì nước rút ra biển rất nhanh. Ðây là địa bàn cư trú cũa người Việt gốc Khmer và người Minh Hương (Tiều Châu chiếm đa số) . Ngoài những cánh đồng lúa, ruộng muối cò bay thẳng cánh ở Bạc Liêu, dân địa phương còn trồng nhiều hoa màu phụ như cải, dưa hấu, cây ăn trái.. Với người Việt gốc Khmer, thì thu nhập chính vẫn là cấy lúa ngắn hạn loại Thần Nông, trên đất cao không cần nhiều nước.

3-TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG :

            Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị, thuộc Miền Trung nước Việt, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết,thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao ‘ Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm ‘.Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào miền Châu Thổ Sông Cửu Long,vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người.

            Trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt, tổ tiên ta bao đời vừa phải ngăn chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng luôn luôn diễn ra cuộc chiến sống chết chống thiên tai bảo lụt, khắp ba miền Trung, Nam , Bắc., mỗi miền có một địa hình, thời tiết khác nhau nên cách phòng chống cũng vô cùng phức tạp.

            Dựa vào tài liệu của bao đời lưu lại, ta thấy người xưa đã biết rất rõ ràng phương pháp trị thủy. Miền Trung điạ hình hẹp và dốc, sông ngắn nên lụt lội dâng lên rất mau., phải luôn đề phòng để kịp thời phòng chống. Ở Bắc phần, đồng bằng thấp hơn mực nước sông vào mùa lụt từ 5m ố 7m, vì vậy cần phải đắp đê rất cao để ngăn lụt. Hằng năm vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn bên Tàu chảy về, cộng thêm nước từ miền Trung Du và đồng bằng, lại còn thủy triều và nước biển dâng cao, do ảnh hưởng của bảo, là nguyên nhân mà các thời đại VN trong lịch sử, phải đắp đê ngăn ngừa lụt ở miền Bắc.

            Năm 886 sau Tây lịch, miền Bắc đã bắt đầu khởi công xây dựng hệ thống đê điền, doc theo các con sông Hồng,Thái Bình và nhiều con sông quan trọng khác.. Hiện nay qua báo cáo, hệ thống đê tại Bắc Việt dài tới 3500 km,tổng khối lượng đất đá xữ dụng là 400 triệu m3, gồm 260 bờ kè, 800 cống thoát nước. Những con đê với bờ cao, dốc thoải,thảm cỏ xanh rờn, uốn lượn hai bờ sông, đã vẽ nên bức tranh quê làng VN, thật là êm đềm hạnh phúc. Khắp nơi chen chúc ruộng đồng, vườn tược và nhà cửa đình làng, ân hiện sau lũy tre xanh, đã nói lên thể phách văn minh văn hiến của Dân tộc Hồng-Lạc.

            Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới 15-15,5m. Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Ðà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể.. để hạ bớt mực nước lụt. Câu chuyện thần thoại ‘ Sơn Tinh Thủy Tinh ‘ thời Tổ Hùng dựng nước, được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp hồi tiền chiến, vẽ lại bằng bức tranh thơ, đã nói lên cuộc chiến quyết liệt của Dân Tộc Việt,trước thảm nạn lụt lội và giặc thù truyền kiếp, cả hai đều xuất phát từ nước Tàu. Vậy mà từ Hồ Chí Minh tới các chóp bu kế tiếp sau này, lúc nào cũng to miệng bưng bợ Trung Cộng, rằng là đồng chí đồng rận, chủ nghĩa xã hội anh em, môi hở răng lạnh, sông liên sông núi liền núi.. cho nên VC mới đem không biết bao nhiêu đất đai biên giới, biển đảo để mà dâng cúng cho quan thầy,cũng đâu có gì lạ.

            Ðồng bằng sông Cửu Long trái lại bằng phẳng,cho nên trước đây người dân bản địa có tập quán là cứ sống chung với lủ lụt cho tới khi nước rút hết, chứ không làm gì cả. Ta biết Sông Mekong tuy phát nguồn tận Tây Tạng và chảy qua các nước Miến Ðiện, Thái Lan, Lào, Kampuchia mới vào Nam VN. Quan trọng nhất, là dù phần cuối của sông Mekong, với tổng diện tích tự nhiên chỉ có 3,9 triệu ha, chiếm 5% toàn bộ lưu lượng của cả dòng sông. Trong lúc đó hằng năm,miền tây nam Nam phần, phải nhận của sông Cửu Long, hơn 460 tỷ nước, cùng 200 triệu tấn phù sa, tạo nên miền châu thổ phì nhiêu sông Tiền, sông Hậu ngày nay.

            Lãnh thổ VN, chỉ có địa hình Nam Phần bằng phẳng, thấp không có đồi núi nhiều (trừ núi Bà Rá, Bà Ðen ở miền Ðông-Bắc,Thất Sơn ở biên giới phía Tây). Nên dù khắp nơi có đầy kênh rạch, sông ngòi nhưng vào mùa nước lụt, vẫn không chịu nổi ảnh hưởng của thủy triều và lượng nước tuôn về từ thượng nguồn, khiến cho lòng sông không tải kịp nước ra biển, gây nên hiện tượng úng ngập tràn lan kéo dài hằng tháng.

            Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào.. thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ , làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản.. Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước.

            Thật ra vấn đề lụt lội tại Nam Phần, đã được người Pháp quan tâm từ năm 1926, khi Ðông Dương là thuộc địa của thực dân. Qua những hồ sơ lưu trữ, ta biết tới nay vùng này đã bị 31 lần lụt lội lớn nhỏ. Quan trọng nhất là năm 1966, vào mùa lụt, nước sông Cửu Long tại Tân Châu lên tới 5,28m (trước đó mực nước tối đa là 4,6m), đã làm cho toàn thể đồng bằng miền Tây chìm ngập trong biển nước. Trước đây người ta thường có quan niệm về sự lụt lội của Nam phần, là điều phải xãy ra theo chu kỳ qui định của thiên nhiên trong 4 năm. Ðó là những giai đoạn 1937-1940, 1946-1949.

            Nhưng giai thoại trên, kể cả lụt lội đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, coi như đã chấm dứt từ năm 1980, nguyên do vì Trung Cộng đã phá vở gần như tất cả những môi trường thiên nhiên tại thượng nguồn nhưng VN lại lãnh đủ hậu quả, nhưng cứ đem hiệu ứng nhà kính, đã gây ra sự thay đổi thời tiết, khí hậu, để mà đổ thừa hay che dấu sự thực.

            Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Ðồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại , từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ.

            Sông Mekong khi chảy tới Kampuchia , trong tỉnh Kompong Cham thì lòng sông không đủ sức chuyển vận lưu lượng nước từ thượng nguồn, nên phần lớn ruộng đất trong vùng cũng bị ngập nước nhiều tháng, từ tháng 7-12 hằng năm. Nhờ nước tràn bờ nên lưu lượng giảm. Thêm vào đó tại NamVang, sông Cửu Long có một chi nhánh lớn là sông Tonle Sap, đã dẫn nước về chứa trong Biển Hồ có thể tích tới 80 tỷ m3.Nước này lại chảy ngược ra sông chính vào mùa khô.

            Cũng tại Kompong Cham, sông Cửu Long lại chia thành hai nhánh : Nhánh chính tới Neak Luong và chảy vào VN tại Tân Châu gọi là Tiền Giang. Nhánh Phụ còn gọi là sông Bassaac vào Châu Ðốc, đó là sông Hậu và ra Ðông Hải bằng chín cửa nhưng nay cửa Ba Lai tại Bến Tre đã bị cát biển và phù sa bít kín. Tại đầu nguồn, vì lưu lương nước quá mạnh, nên dòng sông thường bị tràn bờ, đã tạo nên vùng nước úng thủy Ðồng Tháp Mười và Khu trũng Tứ Giác Long Xuyên. Ngoài ra vùng này còn phải tiếp nhận một khối lượng nước phèn, hơn 77% từ Kampuchia tràn sang trong mùa lụt.

            Từ năm 1961 tới nay, miền Tây Nam Phần đã bị nhiều trận lụt rất lớn và thiệt hại, vào các năm 1961-1966-1984-1991-1994 với mực nước dâng cao từ 4,67m ố 5,28m. Năm 1978 tại Tân Châu, nước lên cao 4,88m làm 87 người chết, gây hư hại 307.000 Ha lúa và 9000 căn nhà. Năm 1994 mực nước lụt lên tới 5,11m làm chết 407 người, gây tổn thất 283.000 Ha lúa, 2799 căn nhà bị nước cuốn, thiệt hại tới 2284 tỷ tiền Hồ.Năm 1995 lại lụt, làm 150 người thiệt mạng, cuốn trôi nhiều nhà cửa và ruộng lua.

            Nguy cơ trùng trùng nhưng Ðảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ.. nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó,thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong.. đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất.. được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo.

            Khôi hài nhất là bọn Tàu trắng Á Châu và các nước Tây Phương, trong cái gọi là Ủy Ban hợp tác và bảo vệ sông Mekong, lúc nào cũng to miệng về những chuyện trên mây,mục đích vẫn là những dự án đầu tư kiếm lời, chứ đâu thấy ai nhắc tới hiểm họa, khủng bố mà Trung Cộng đã gây cho các nước ở hạ nguồn sông Cửu Long.

4- ÐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN :

            Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ : Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều.

            Ðã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Ðây là thảm họa chỉ mới xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên,vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng.

            Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa.

            Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 ố 1,3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá , ốc.. để xuất cảng.

            Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Ðồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Ðồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa.

            Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km.

            Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng.

            Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại , không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho.. mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ.đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước,dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước.

            Hởi ơi viết chuyện nước mà đau lòng với nước ‘

            ‘ Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
            Thương nhà mõi miệng cái gia gia
            Dừng chân ngoảnh lại trời non nước
            Một mảnh tình riêng ta với ta ‘
             (Bà Huyện Thanh Quan)
Hay ‘ Non cao đã biết hay chưa
            Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn ‘
            (Tản Ðà)

            Vẽ hửng hờ và êm ả của giòng sông, vào lúc chiều tà hay khi trăng treo trên đầu núi, không biết Nguyễn Du tiên sinh sống lại, đứng trước những thảm họa trên,đang ào ạt trút xuống những giòng nước thân thương đó, từng phút, từng giây, từng trong hơi thở của nhip sống Dân Tộc Việt, có còn đủ cảm hứng để hạ bút đề thơ :

‘ Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác, biết là về đâu ‘ -/- 

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 8-2015
 MƯỜNG GIANG                


My Blog List