zz

br /> br /> /> br /> ----

Monday, 13 November 2017

THÂM Ý ĐẰNG SAU BÀI DIỄN VĂN CỦA DONALD TRUMP VỀ HAI BÀ TRƯNG.


       Đúng nghiã là hồn Tô Định nhập Nguyễn Phú Trọng, noí cách khác Tô Định taí sinh Nguyễn Phú Trọng, ht


----- Forwarded Message -----
From: MINHHA PHAM  wrote
Sent: Sunday, November 12, 2017 3:09 AM
Subject: THÂM Ý ĐẰNG SAU BÀI DIỄN VĂN CỦA DONALD TRUMP VỀ HAI BÀ TRƯNG. - Dương Hoài Linh

Dương Hoài Linh
THÂM Ý ĐẰNG SAU BÀI DIỄN VĂN CỦA DONALD TRUMP VỀ HAI BÀ TRƯNG.

Khi tổng thống Mỹ đí công du đến một vùng đất nào đó, những người viết diễn văn cho tổng thống thường đặt hàng những người gốc vùng đất đó hiện đang sống trên đất Mỹ viết về văn hóa của đất nước mình. Sau đó bộ phận chấp bút này sẽ chọn lấy những chi tiết đắt giá nhất để đưa vào bài diễn văn của tổng thống. Một số người gốc Việt đã tham mưu cho Obama đưa bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt vào bài diễn văn gây xúc động lòng người khi Obama đọc tại Việt Nam năm 2016. Và lần này đến lượt Trump thâm ý của người viết cao hơn thế nhiều.
Tại sao người viết diễn văn cho tổng thống Donald Trump lại lấy ví dụ về Hai Bà Trưng mà không lấy ví dụ nào khác? Trong khi lịch sử 2000 năm sau Công Nguyên là lịch sử chống Tàu.
Chống xâm lược Trung Quốc không chỉ có thời Bà Trưng mà còn thời Bà Triệu Thị Trinh, thời Ngô Quyền, thời Lý Thường Kiệt và rất nhiều sau này.
Thâm ý của Trump ở đây chính là thời kỳ Hai Bà Trưng giống với thời kỳ hiện nay của đảng cộng sản Việt Nam . Đó là thời kỳ Tô Định làm thái thú cho nhà Đông Hán không khác gì Nguyễn Phú Trọng làm thái thú cho nhà Hán của Tập Cận Bình hiện nay.
Từ khi nhà Triệu tiêu diệt An Dương vương và thiết lập quyền cai trị trên lãnh thổ Âu Lạc cũ, chế độ thống trị dừng lại ở cấp quận với đại diện là 2 viên quan sứ ở 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đến khi nhà Tây Hán diệt nhà Triệu (111 TCN), cấp độ thống trị vẫn ở cấp quận; chế độ các Lạc hầu, Lạc tướng của người Việt với quyền thế tập trên lãnh thổ Âu Lạc cũ được các chính quyền phương Bắc chấp nhận cho duy trì, nhưng ngày càng suy yếu.
Các Lạc tướng, Lạc hầu, Bồ chính để duy trì quyền hành và sự thế tập bị bắt buộc phải cộng tác với chính quyền cai trị phương Bắc. Trong hàng ngũ các Lạc tướng có sự phân hóa giữa một bên là những người thực sự cộng tác với chính quyền nhà Hán, bên kia là những người chỉ thần phục bên ngoài.
Từ khi nhà Đông Hán thành lập, Hán Quang Vũ Đế tuy chưa dẹp xong các lực lượng cát cứ phương Bắc nhưng vẫn quan tâm tới miền Nam. Tích Quang, Nhâm Diên làm Thái thú Giao Chỉ và Thái thú Cửu Chân của nhà Hán, ra sức thực hiện chính sách đồng hóa, thay đổi tập tục từ hôn nhân đến y phục, lễ nghĩa của người Việt bắt theo người Hán, dẫn đến xúc phạm nặng nề tới phong tục cũ nhiều đời của người Việt.
Từ khi Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ năm 34, ách thống trị của nhà Đông Hán càng nặng nề hơn với người Việt. Tô Định tàn bạo và tham lam, tăng cường phục dịch và thuế khóa với người Việt để cống nạp cho triều đình nhà Hán nhiều hơn, thúc ép các Lạc tướng dữ hơn. Sự đụng chạm lớn về văn hóa, tín ngưỡng và kinh tế khiến mâu thuẫn giữa người Việt – không chỉ nhân dân mà cả các Lạc tướng – với chế độ thống trị của nhà Hán ngày càng gay gắt. Vì vậy các Lạc tướng đã đoàn kết nhau lại để chống đối.
Cũng là nhà Hán, cũng là chính sách cai trị thái thú dùng tay sai người Việt trị người Việt ý đồ của Trump đã quá rõ ràng không thể rõ hơn.
Nhưng một số người lại đùa cợt cho rằng "Nếu Hai Bà Trưng xuất hiện ở thời này cũng bị bắt vì tội chống Formosa Trung Quốc".
Lập luận này sai hoàn toàn. Thời Hai Bà Trưng dân ta còn khốn khổ hơn khi bị bắt lên rừng tìm sản vật, đày xuống biển mò ngọc trai. Thân phận nô lệ còn bi thảm hơn.Và thái thú Tô Định không thể nhẹ tay hơn cộng sản Việt Nam trong việc bắt người.
Do vậy nói rằng Hai Bà Trưng sống lại ở thời đại này cũng sẽ bị bắt như Mẹ Nấm , như Trần Thị Nga là đánh giá quá cao CSVN và phủ nhận sự nổ lực của Hai Bà cũng như bào chữa cho sự bế tắc của phong trào đấu tranh dân chủ hiện nay.
Và như thế đã phủ nhận tâm huyết của người viết diễn văn và tâm huyết của người đã quyết định đưa chi tiết này vào bài diễn văn. Người đó chính là ông Trump , kẻ quyết định cuối cùng.
Nhưng thật kỳ lạ cũng trong bài diễn văn này không ai chú ý đến câu nói của ông Trump về dân chủ và pháp trị :
"Chúng tôi tôn trọng nền pháp trị chứ không phải những lãnh đạo độc tài. Các nguyên tắc này bảo đảm ổn định và xây dựng an ninh, niềm tin phồn vinh và điều xảy ở các quốc gia là giống nhau."
Đây mới chính là mấu chốt của vấn đề. Bởi lẻ một xã hội nếu không có dân chủ và pháp trị thì chống xâm lược chỉ là thay thế ngoại xâm bằng nội xâm. Nhân dân thay vì làm nô lệ cho một thế lực ngoại bang lại làm nô lệ cho một đảng phái chính trị. Điều đó có khác gì nhau ?
Nhưng cũng giống như bài diễn văn của Obama, người Việt Nam chỉ chú ý tới phần chống Trung Quốc còn bỏ qua phần nói vể thể chế chính trị phải do người dân Việt Nam quyết định. Họ tảng lờ và giả điếc trước vấn đề này. Thậm chí còn suy tôn chế độ độc tài lên bằng cách ví von rằng ngay cả Hai Bà Trưng cũng không thể làm gì được CSVN.
Điều đó chứng tỏ người Việt Nam không hiểu gì về dân chủ ,pháp trị , bó tay trước các vị vua Đảng CSVN. Và họ chỉ bị kích thích tinh thần tự hào dân tộc khi nhắc đến truyền thống chống ngoại xâm.
Nhưng cũng ngay chính người Mỹ , kẻ đọc diễn văn vẫn bị biến thành "ngoại xâm" trước đây chưa lâu. Và bây giờ tuyên giáo Việt Nam vẫn nhắc lại điều đó mỗi năm vào ngày 30/4. Vậy thì một điều có thể kết luận là còn lâu người Việt Nam mới hiểu rõ kẻ thù của họ là ai? Là những tên thái thú hay nhà Đông Hán.
Có lẻ chính những tên thái thú như đảng CSVN mới là đối tượng mà bài diễn văn muốn nói tới. Tiếc thay chỉ có thể nói trắng ra thì người Việt mới hiểu .

Image may contain: 1 person, text


Comments

Trân Thế Luân
Trân Thế Luân Tôi thấy bài diên văn của Tổng thống trump với thông điệp rỏ ràng nói nguy cơ mất nước,sự độc tài và hèn nhát của đcs.và thông điệp quan trọng nhất là hãy đặt quốc gia ,dân tộc lên trên hết.đừng nhầm lẫn yêu Đảng và yêu quốc gia dân tộc,vì dân vn đang bị cs lừa.

Lê Thuấn
Lê Thuấn Bài viết phân tích rất hay và logic. Ngay cả 3 phóng viên người Việt ở Mỹ khi tranh luận, phân tích về bài phát biểu của Ông Trump cũng kg đề cập đến chi tiết này. (Hôm qua mình xem trên youtube).
Cảm ơn a Hoài Linh Dương!

Louis Nguyễn
Louis Nguyễn Phải nói là bài viết phân tích quá hay,quá logic

Tinh Le
Tinh Le Rât hay !

Quang An
Quang An Em gái này là cái ổ đưa tin .. nhảm!!!

Ngọc Hạnh
Ngọc Hạnh Cha già đó anh, em gái cái con khỉ 😜

Quang An
Quang An Ngọc Hạnh cũng làm chết nhiều anh á 🙂

Ngọc Hạnh
Ngọc Hạnh Tại mấy anh đó bị khùng 😜

Nhan Vo
Nhan Vo Cảm ơn bài phân tích của anh rất hay và chính xác.

Di Hoang
Di Hoang Rất hay😍

Hùng Minh Phan
Hùng Minh Phan TOÀN THỂ 100 TRIỆU CON DÂN VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI HÃY DỐC HẾT TOÀN BỘ TINH THẦN VÀ LỰC LƯỢNG , TÍNH MẠNG VÀ CỦA CẢI HẦU XÂY DỰNG BẰNG ĐƯỢC 1 NƯỚC CỘNG HÒA VIỆT NAM MỚI THỰC SỰ DÂN GIÀU , NƯỚC MẠNH , DÂN CHỦ , CÔNG BẰNG , VĂN MINH !!!

Khang Hân
Khang Hân Cám ơn anh.






TRUMP THẬT LÀ PHẢN ĐỘNG : SAU KHI TUYÊN BỐ NGÀY 7/11 LÀ NGÀY KỶ NIỆM NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN, TRUMP ĐÃ VINH DANH CÁC CỰU CHIẾN BINH MỸ CHIẾN ĐẤU TẠI VIỆT NAM VÀO NGÀY 11/11 NGAY TẠI MẢNH ĐẤT ĐẦU TIÊN MÀ HỌ ĐẶT CHÂN ĐẾN : ĐÀ NẴNG.

Năm 1967, những người biểu tình thường xuyên tập trung ở Công viên Lafayette, đối diện Nhà Trắng. Họ cầm biểu ngữ, phát biểu và hô vang khẩu hiệu: “Hey, hey, L.B.J. How many babies did you kill today“ (Tạm dịch: Này này, L.B.J (Lindon B. Johnson), hôm nay ông đã giết bao nhiêu đứa trẻ?)
Câu khẩu hiệu nhắc tới công cụ mà chính sách tàn bạo, phi nhân tính của Lyndon B. Johnson sử dụng: những người lính trẻ đang chiến đấu ở Việt nam. Và không có gì khó khăn để nhiều người Mỹ, đặc biệt là những người phản đối chiến tranh, quả quyết rằng chính các binh sĩ Mỹ cũng là những kẻ tàn bạo và mất nhân tính – dẫn đến một làn sóng phản đối mạnh mẽ chống lại những người lính trở về từ Việt Nam. Trong một trường hợp, một thanh niên trẻ tuổi gây gổ với người cựu chiến binh bị cụt tay tại trường Cao đẳng Colorado năm 1968. Anh ta hỏi: “Bị vậy ở Việt Nam hả?” Khi người cựu binh xác nhận, gã thanh niên đáp: “Đáng đời ông đấy.”
Rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc, ý tưởng về các cựu binh Việt Nam như là những kẻ mất luân lý, nghiện ngập, thậm chí là bị hội chứng thích giết trẻ em đã lan tràn văn hóa Mỹ, được dựng thành nhiều bộ phim như “Taxi Driver”, “First Blood” hay “Jacob’s Ladder” Nhưng những hình mẫu đó là rất sai lầm. Phần lớn những người Mỹ từng nhập ngũ không bao giờ phạm phải các tội ác tàn bạo; họ đấu tranh gan dạ chống những kẻ thù đầy quyết tâm trong điều kiện khắc nghiệt, họ tái hòa nhập xã hội và tạo ra đóng góp đáng kể trong nhiều năm qua.
Mặc dù có tới 2,3 triệu nam nữ đã phục vụ tại chiến trường Việt Nam, nhiệm vụ chiến đấu khó khăn chỉ diễn ra đối với một phần khá nhỏ trong số những người đó, chủ yếu là bộ binh và lực lượng hỗ trợ cận chiến, như pháo binh, xe tăng và phi công. Và quả thực nhiều người trong số đó đã trải qua những khó khăn về cảm xúc và tâm lý. Một cựu binh thừa nhận từng khóc “bởi tổn thương, đau đớn, và bởi nỗi sợ hãi xâm lấn vì tôi không biết khi nào mình sẽ chết.” Nhưng hầu như không ai trong số họ suy sụp; phần lớn đều chinh phục được nỗi sợ hãi (và đôi khi là cả sự buồn chán) khi phải truy lùng những người lính du kích địch thoắt ẩn thoắt hiện ở miền Nam, hay chiến đấu trong những chiến hào ở khu vực chiến sự phía Bắc (Nam Việt Nam) chống lại quân đội chính quy tinh nhuệ Bắc Việt.
Nơi người lính đôi khi sụp đổ, và nơi mà họ nhiều khả năng phạm tội ác chiến tranh nhất, đó là ở miền Nam. Việc không lần ra manh mối quân địch tạo nên căng thẳng tột độ. Một người thợ cắt tóc hay giặt là ở căn cứ hoặc nông dân làm việc trên đồng ruộng vào ban ngày có thể đi đặt bẫy vào ban đêm. Điều này dẫn đến những hành động tàn bạo: Các thành viên tàn nhẫn của lực lượng chống du kích Mãnh Hổ đã sát hại hàng trăm dân thường; tháng 03/1968, các binh sĩ Mỹ đã giết thêm hàng trăm người ở ngôi làng Mỹ Lai miền Nam Việt Nam.
Nhưng các tội ác chiến tranh không hề phổ biến. Thực ra, cứ mỗi hành động tàn bạo thì cũng lại có nhiều hơn các hành động tốt đẹp đối với dân thường và lòng can đảm trong chiến trận. Các binh sĩ đã xây dựng lại trường học, nhà cửa và đường sá, thường xuất phát từ chính sáng kiến của họ; 244 người Mỹ được nhận Huân chương Danh dự, nhiều hơn trong Thế chiến I và Chiến tranh Triều Tiên gộp lại.
Phần lớn những người lính, dù ở bất kỳ đâu, đều chỉ muốn trở về nhà. Hầu như không ai nghĩ rằng chiến tranh sẽ không định hình phần còn lại cuộc đời họ, nhưng họ cũng mong mỏi sự tồn tại bình thường trước đây của mình, và sự đoàn viên với gia đình và quê hương. Hầu như không cựu binh nào có thể quên được ngày họ rời khỏi Việt Nam, phần lớn sẽ bước lên chuyến bay “Freedom Bird” (Cánh chim tự do – biệt danh gọi các chuyến bay do chính phủ Mỹ thuê để đưa lính Mỹ hồi hương – NBT) để trở về nhà. Một người nhớ lại, “Ôi trời, tất thảy mọi người đều đứng dậy và hoan hô khi phi công thông báo rằng họ đang bay vào không phận Hoa Kỳ.”
Nhưng những người trở về hầu như không nhận được diễu hành đón chào hay sự thừa nhận nào, và thường cảm thấy bị cô lập khỏi những người đồng hương. Một người nhớ lại rằng chị gái anh ấy đã hỏi, “Em đang chiến đấu vì ai vậy, Bắc Việt hay những kẻ khác?”. Anh ấy ca thán chua xót: “Tôi biết không ai ở đây hiểu được những gì đã xảy ra. Bởi nếu ngay chính gia đình tôi cũng không hiểu được, tôi còn trông mong gì ở những người thậm chí chỉ quen biết tôi?”
Trong số 298.559 người tham gia phục vụ quân ngũ năm 1967, 11.363 người đã không thể trở về từ Việt Nam. Phần lớn các cựu chiến binh đều hiểu những cảm giác của một tác giả vô danh, người đã viết rằng: “Chiến tranh đã kéo chúng ta rời xa quê hương mình trong mùa xuân ngập nắng của tuổi trẻ. Những ai không sống sót trở về đã ở lại với mùa xuân bất diệt, mãi mãi thanh xuân, và một phần của họ vẫn luôn bên cạnh chúng ta.”
44 năm sau, các cựu chiến binh đã được nước Mỹ chính thức công nhận về những hy sinh phục vụ đất nước của họ. Đó là nhờ những nỗ lực không ngừng của Thượng nghị sĩ Dân chủ Joe Donnelly, tiểu bang Indiana, và Thượng nghị sĩ Cộng hòa Pat Toomey, tiểu bang Pennsylvania, đồng tác giả dự luật S.305.
Ngày thứ Tư 29 tháng 3 vừa qua đánh dấu một thời điểm quan trọng trong lịch sử nước Mỹ.Tòa Bạch Ốc cho biết sau khi ký ban hành luật Ngày Cựu binh Chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Donald Trump đã viết trên Twitter rằng:
“Tối nay tôi rất tự hào ký dự luật 305 thành luật khuyến khích treo cờ Mỹ nhân Ngày Cựu binh Chiến tranh Việt Nam vào ngày 29/3.”
Tổng thống Donald Trump kỷ niệm ngày Lễ Cựu Chiến binh (11/11) bằng một bài phát biểu tại Đà Nẵng trước các cựu chiến binh Mỹ từng tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đà Nẵng chính là nơi binh sĩ Mỹ đổ bộ cách đây hơn 50 năm và là nơi đặt căn cứ không quân của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Tổng thống Trump có mặt tại Đà Nẵng hôm 10/11 để tham dự Hội nghị thượng đỉnh APEC-Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương.
Ngỏ lời cám ơn 7 cựu chiến binh trở lại thăm Việt Nam trong dịp này, ông Trump nói: “Tôi chỉ biết họ vài phút trước đây và họ là những người mạnh mẽ và thông minh. Tôi thích họ. Tôi nghĩ họ cũng thích tôi.”
Trong bài phát biểu tại khu nghĩ dưỡng Hyatt Regency Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ ca ngợi những cựu binh này là những “anh hùng – những người đã hoàn thành nghĩa vụ cho đất nước chúng ta.”
Tuyên bố có đoạn viết “Chúng ta hoan nghênh các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam anh dũng, những người vì phục vụ đất nước, bảo vệ nền tự do đã chiến đấu can trường chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản và bảo vệ sự tự do cho người dân Việt Nam.
Tổng thống nói “Chúng ta cùng có nghĩa vụ giúp đỡ những cựu chiến binh Việt Nam và gia đình họ làm lành các vết thương của cuộc chiến nặng nề đó. Chúng ta ghi nhớ rằng hơn 58.000 binh sỹ mà tên của họ được khắc trên bức tường đá đen giữa thủ đô Washington vì đã hy sinh trong cuộc chiến.”
Tổng thống Trump đã ký thành luật Đạo luật Công nhận Cựu chiến binh Việt Nam 2017, chọn ngày 29/3 hằng năm là Ngày Cựu chiến binh Việt Nam. Luật này khuyến khích việc treo quốc kỳ Mỹ vào ngày này hàng năm để tôn vinh các cựu chiến binh tham chiến ở Việt Nam.
HOAN NGHÊNH TRUMP! TRUMP THIỆT LÀ PHẢN ĐÔNG.


Tổng thống Donald Trump kỷ niệm ngày Lễ Cựu Chiến binh (11/11) bằng một bài phát biểu tại Đà Nẵng trước các cựu chiến binh Mỹ từng tham gia cuộc chiến tranh…
voatiengviet.com

Comments

Tho Huu Nguyen
Tho Huu Nguyen BÀI DIỄN VĂN HÙNG HỒN HƠN MỸ ĐEN , ÔNG TRUMP NÓI VỀ 2 BÀ TRƯNG VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CÒN MỸ ĐEN THÌ CHỈ DIỄN THUYẾT DÂN CHỦ CUỘI MÀ CÒN TIẾP TRỌNG LÚ Ở TÒA BẠCH ỐC MÀ CHƯA CÓ 1 TỔNG THỐNG NÀO ĐÓN LÃNH TỤ CS NHƯ CẬU MỸ ĐEN OBAMA , KHÁC NHAU VÀ HƠN NHAU CHỔ ẤY !

Tinh Le
Tinh Le Ghi nhận công lao vì tổ quốc là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo đất nước !
Đau lòng khi mấy chục ngàn chiến binh VN trong cuộc chiến chống Tàu 1979÷1989 đã ko được vinh danh xứng tầm !

Trần Vĩnh Bửu
Trần Vĩnh Bửu Nếu không có sự lẫn lộn trong dân: Ban ngày là dân, ban đêm là du kích thì người dân VN có chết nhiều đến như vậy không ? Một câu hỏi khó tìm lời giải đáp.








__._,_.___

Posted by: hungthe

Vì sao ông Obama nhắc đến Lý Thường Kiệt, ông Trump nhắc đến Hai Bà Trưng.

Phan Nguyen
20 hrs · 
Vì sao ông Obama nhắc đến Lý Thường Kiệt, ông Trump nhắc đến Hai Bà Trưng.

Đó đều là những câu chuyện lịch sử chống quân Tàu xâm lược quật cường của dân tộc VN xưa.
Hỏi tiếp, tại sao các Tổng thống Mỹ lại nhắc đến những câu chuyện chống xâm lược mà ko nhắc đến lịch sử kinh tế hoặc những câu chuyện khác ko liên quan đến chuyện đấu tranh giữ nước. Và đều là câu chuyện chống Hán - Tàu chứ ko phải là chuyện chống Nguyên - Mông

Các Tổng thống Mỹ khi thăm nước khác có nhắc câu chuyện chống xâm lược của nước họ ko?
Các nguyên thủ ko phải Mỹ khi thăm VN có nhắc đến câu chuyện chống xâm lược Hán - Tàu của VN xưa ko?

Hỏi để thấy rằng, các Tổng thống Mỹ khá coi trọng vị trí chiến lược của VN trong sách lược toàn cầu của Mỹ. Và cũng phải hiểu rằng, các ông ấy nhắc nhở chóp bu VN cũng như dân VN phải tự lực tự cường chống lại sự bành trướng của quân Tàu ngày nay. Và nếu VN biết tự lực tự cường, thì người Mỹ cũng đứng ngay phía sau.

Còn nếu như bị bại não ko hiểu các ông ấy nói gì. Thì ý của các ông nói là: kệ mẹ bọn nhu nhược bán nước chúng mày. Vì các ông ấy chẳng có cam kết gì khác ngoài nhắc nhở cả.

Đối với 1 bọn hèn hạ nhu nhược, ko ai có thể giúp đỡ nổi. Vì muốn giúp đỡ, phải bỏ ra 1 nguồn lực, 1 cái giá cực kỳ đắt đỏ so với những lợi ích đem lại.
Câu hỏi cuối cùng: liệu chóp bu VN có thể bại não và vô cảm đến giới hạn nào nữa?


PHAN NGUYÊN

Sunday, 12 November 2017

Kể từ nay, mọi người không cần… hộ khẩu


Kể từ nay, mọi người không cần… hộ khẩu

                                                                 Hiệu Minh - 05/11/2017


Tôi ước tính, mỗi người dân bỏ ra 1 ngày trong năm để làm cái việc liên quan đến hộ khẩu thì một năm đất nước mất 90 triệu ngày làm việc vào những việc vô bổ, kéo theo bao hệ lụy. Người dân muốn biết bao giờ thì bỏ … Búa và Liềm?

Còn rất nhiều thủ tục rơi rớt lại từ thời quan ang bao cấp sẽ dần được từ bỏ. Nhưng cái sổ hộ khẩu được Chính phủ xóa khỏi thủ tục hành chính là một tin vui cho 90 triệu người, từ nay mọi người sinh ra đều có quyền không cần… hộ khẩu.
Hôm trước một người bạn rủ đi ăn ở một nhà ang có tên “Quán cơm Mậu dịch” ở gần hồ Trúc Bạch.
Người chủ trang trí nội thất khá giống với thời bao cấp, từ mầu tường quét vôi vàng vàng, cửa sổ sơn xanh, vài cái bi đông và xe đạp cũ kỹ, cô bán ang áo blue trắng, đội mũ, hỏi có thích món cơm nguội chan nước phở 25 ngàn, bỗng nhiên cảm giác thời bao cấp trờ về sau hơn ba mươi năm.
Các món ăn khá ngon nấu kiểu “phở mậu dịch, kịch tivi”, chúng tôi ôn kỷ niệm dù anh bạn khi đó mới vài tuổi, chỉ nhớ mẹ bắt đi xếp ang mua nước mắm, cãi nhau với lũ đồng lứa, còn tôi thì suốt một đời tuổi trẻ ôm sổ hộ khẩu và sổ gạo, quên cả lấy vợ.
Hai angà bảo nhau, sổ gạo đã bỏ được 30 năm, nhưng bao giờ đến lượt hộ khẩu. Rồi thầm mong, chính phủ kiến tạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ làm gì đó thật thiết thực, đó là biết từ bỏ những não trạng “bao cấp, xin cho” tồn tại từ thế kỷ trước, trong đó có cuốn sổ nhỏ bé làm khổ biết bao gia đình.
Nếu như sổ gạo tồn tại sau hòa bình 1975 giúp người chủ hộ và những người ăn theo được đong gạo theo tiêu chuẩn để sống qua ngày thì sổ hộ khẩu như thần hộ mệnh cho cả gia đình có trước đó mấy chục năm.
Cụ Hồ từng tuyên bố trong ngày 2-9-1945 rằng, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, nhưng không có hộ khẩu và sổ gạo thì khó được angà người, nhất là ở thành phố.
Do bên công an cấp, sổ hộ khẩu là phương thức quản lý xã hội theo hộ gia đình, mọi quyền lợi như phân nhà, sổ gạo, tem phiếu, việc làm, cho con cái đi học, đều phụ thuộc vào có tên trong hộ khẩu hay không?
Thay đổi nơi cư trú, lập gia đình mới, đều liên quan đến hộ khẩu, tách ra, nhập vào, biết bao cửa ải Nhiều người có vợ ở quê, bản ang làm ở Hà Nội mấy chục năm, nhưng con theo hộ khẩu của mẹ, nên muốn đưa các con ra thành phố để học hành có điều kiện nên người nhưng không có hộ khẩu nên chịu.
Cách đây vài hôm, có cô ang xóm nhờ tôi hỏi thủ tục về bảo hiểm xã hội. Chả là cô đi nước ngoài nhưng sợ mất việc khi về bơ vơ nên cố đóng bảo hiểm ang tháng để phòng khi “trái gió trở giời” thì mình về nước vẫn có lương hưu.
Bên bảo hiểm bắt cung cấp sổ hộ khẩu và sổ bảo hiểm của chủ hộ. Chủ hộ và cô đã ly dị từ lâu rồi, mà ông ấy không đóng bảo hiểm, phó mặc số phận cho “giời”. Tôi bảo cô, liên quan đến thủ tục hộ khẩu thì chịu rồi.
Hồi cháu lớn nhà này từ Mỹ về Việt Nam chơi vài tháng. Lúc đó cháu đủ 14 tuổi nên muốn làm chứng minh thư (CMT) vừa là quyền công dân vừa để cho cháu có cảm giác làm người Việt Nam vì cháu đã có thẻ xanh và sắp thi vào công dân Mỹ.
Người ta bảo làm CMT dễ lắm. Vác giấy tờ lên xin thì cô trung úy công an trẻ măng xem xét một hồi và bảo, trong sổ hộ khẩu nhà bác không ghi nơi sinh của cháu. Tôi bảo cháu có hộ chiếu, đề ngày và nơi sinh, có giấy khai sinh cũng đề ngày và nơi sinh. Cô vẫn lắc đầu nói bác phải về bổ sung nơi sinh.
Cô nhìn tôi như tội đồ vì cho rằng khi nhập hộ khẩu cho cháu, chủ hộ phải nhắc công an điền cho chính xác, mà lẽ ra họ phải làm đúng phận sự của mình hơn là bắt dân kiểm tra chéo.
Lại về phường, lại tổ dân phố, rồi qua công an xác nhận, chờ đợi 20 ngày, chưa kể khai sai hoặc do hướng dẫn không kỹ, phải đi lại kha khá.
Cô công an thấy một ông già đi lại nhiều lần có vẻ khinh khinh, cho rằng lão này chả biết thủ tục hộ khẩu là gì. Nhưng là người viết, tôi rất muốn có cảm giác khi bị hành thì như thế nào.
Sau khoảng 10 lần đi lại và sau hai tháng mới có được cái CMT, một biểu tượng làm người Việt của cháu, nhưng khi đó cháu đã qua Mỹ rồi, chưa biết mặt mũi cái CMT ra sao.
Sổ hộ khẩu sắp hết thời?
Hai “của nợ” ám ảnh, quấy rầy người dân Việt Nam hơn nửa thế kỷ
Tôi ước tính, mỗi người dân bỏ ra 1 ngày trong 1 năm để làm cái việc liên quan đến hộ khẩu thì một năm đất nước này mất 90 triệu ngày làm việc vào những việc vô bổ, kéo theo bao hệ lụy.
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tính theo sức mua (PPP) khoảng 7000 USD nếu chia đều cho 365 ngày thì trung bình mỗi ngày, một người Việt làm là khoản tiền 20$, 90 triệu người thì số tiền đó là 1,8 tỷ đô/năm chi phí cho những việc hành là chính hơn là an ninh quốc gia liên quan đến hộ khẩu.
10 năm là 18 tỷ, 20 năm là 36 tỷ, nếu 50 năm thì tương đương với một phần tư GDP năm 2016. Tính từ khi có hộ khẩu tới giờ (1960), thủ tục này đã làm thiệt hại cho kinh tế biết bao nhiêu, chưa kể sự phiền hà gây ra, giảm sức ang tạo trong dân, thì không thể tính được bằng tiền.
Trong đời tôi từng có những giây phút hạnh phúc liên quan đến sổ. Đó là năm 1977 vừa đi làm đã có sổ hộ khẩu và sau đó là cái sổ gạo. Nhưng hạnh phúc hơn là hai cuốn sổ đó đã được xóa bỏ.
Năm 1986 bỏ cái sổ gạo mua gạo mốc, cứ tưởng 10 ngàn nhân viên lương thực Hà Nội mất việc làm nhưng chính họ lập ra chuỗi cung cấp gạo ngon nhất, phục vụ từng nhà.
Cũng chính năm đó có khoán 10, thực chất là sửa sai chính sách HTX, nông dân làm chủ ruộng đồng. Từ một nước dân phải ăn bo bo của Liên Xô chuyên ang để nuôi bò, vẫn diện tích canh tác ấy, số dân tăng vùn vụt, thế mà Việt Nam là nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới.
Đổi mới 1986 và 30 năm sau kiến tạo bắt đầu bằng những việc xóa bỏ những cuốn sổ nhưng quan trọng hơn là xóa bỏ não trạng hành dân tiến tới nền hành chính vì dân.
Nếu ai muốn tìm lại khoảnh khắc một thời quan lieu bao cấp, hãy tới nhà hàng ăn một bát phở không người lái, cơm nguội chan nước phở giá 25 ngàn, thì sẽ hiểu bỏ đi một tư duy lỗi thời và hù dọa “an ninh quốc gia” đôi khi mất nửa thế kỷ.
Chính phủ đang ở thế kỷ 21 của IT hiện đại không thể trả lời dân chúng bằng những câu hỏi từ thế kỷ 20 và tư duy từ thế kỷ 19.
Mới hiểu tại sao người bạn lại mong hộ khẩu được cho vào sọt rác khi ngồi ăn ở nhà hàng kiểu mậu dịch quốc doanh để nhớ một thời đã qua.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Virus-free. www.avastcom
__._,_.___


Posted by: "Tran Van Long" <

Wednesday, 8 November 2017

Thế kỷ máu của chủ nghĩa cộng sản


Thế kỷ máu của chủ nghĩa cộng sản

Stephen Kotkin

Một trăm năm kể từ cuộc đảo chính của Lenin ở Nga, cái ý thức hệ dấn thân cho sự nghiệp xóa bỏ thị trường và quyền tư hữu đã để lại một chặng đường dài hủy diệt và chết chóc.
Tầm tuần này một thế kỷ trước, chủ nghĩa cộng sản chiếm được đế quốc Nga, đất nước lớn nhất thế giới tại thời điểm đó. Các phong trào thiên tả đủ loại đã lan tràn trong chính trị châu Âu trước khi diễn ra cuộc cách mạng ngày 25 tháng Mười năm 1917 (trùng vào ngày 7 tháng Mười Một theo lịch cải cách của Nga), nhưng Vladimir Lenin và những người bolsheviks của ông thì khác hẳn. Họ không chỉ mang một niềm tin hoang tưởng mà còn linh hoạt trong chiến thuật và may mắn hơn các đối thủ.
Chủ nghĩa cộng sản đi vào lịch sử như là sự kết tội chủ nghĩa tư bản, kịch liệt nhưng đầy chất lý tưởng, và hứa hẹn một thế giới tốt đẹp hơn. Những người ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, cũng như những người cánh tả khác, đều đổ lỗi cho chủ nghĩa tư bản đã gây ra tình trạng bi thảm của nông dân và công nhân cũng như sự lan tràn của lao động nhập cư và lao động trẻ em. Những người cộng sản nhìn thấy cuộc tàn sát trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất như là hậu quả trực tiếp của sự cạnh tranh khốc liệt giữa các cường quốc để giành giật thị trường nước ngoài.
Nhưng một thế kỷ cầm quyền của chủ nghĩa cộng sản – mà ngày nay vẫn còn đứng vững ở Cuba, Bắc Hàn và Trung Quốc – đã làm rõ cái giá phải trả về nhân mạng của một chương trình chính trị quyết tâm lật đổ chủ nghĩa tư bản. Hết lần này đến lượt khác, nỗ lực xóa bỏ thị trường và quyền tư hữu đã gây ra cái chết của một số lượng người đáng kinh ngạc. Từ năm 1917 – ở Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, Đông Âu, Đông Dương, Phi châu, Afghanistan và nhiều nước châu Mỹ Latin – chủ nghĩa cộng sản đã làm thiệt mạng ít nhất 65 triệu người, theo nghiên cứu cẩn thận của các nhà dân số học.
Những công cụ hủy diệt của chủ nghĩa cộng sản bao gồm việc trục xuất hàng loạt, các trại cưỡng bức lao động và sự khủng bố của nhà nước cảnh sát – một mô hình được lập ra bởi Lenin và đặc biệt là người kế tục ông là Joseph Stalin. Mô hình này được nhân rộng nhiều nơi. Dù chủ nghĩa cộng sản đã cố ý giết chết một lượng lớn người dân nhưng thậm chí còn nhiều nạn nhân hơn đã chết vì nạn đói – hậu quả của những dự án tàn bạo về cải tạo xã hội.
Với những tội ác mang “tầm sử thi” này, Lenin và Stalin phải chịu trách nhiệm cá nhân, cũng như Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, Pol Pot ở Cambodia, gia tộc họ Kim ở Bắc Hàn và các nhà độc tài cộng sản khác ít tàn bạo hơn. Nhưng chúng ta đừng bỏ qua các ý tưởng đã thôi thúc những kẻ độc ác này tàn sát con người trên quy mô lớn như vậy, cũng đừng quên cái bối cảnh dân tộc thôi thúc họ đi theo các ý tưởng này. Sự nghiệp chống chủ nghĩa tư bản hấp dẫn họ do tính đúng đắn của chính nó và trong tâm trí họ, đó cũng là công cụ để các quốc gia chậm tiến nhảy vọt lên, đứng vào hàng ngũ các cường quốc.
Giờ đây, cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa đã lụi tàn, nhưng một trăm năm của nó, xét như một sự nghiệp vĩ đại chống chủ nghĩa tư bản, vẫn đòi hỏi một sự phân xử thích hợp.
Vào tháng Hai năm 2017, Nga hoàng Nicholas đệ Nhị thoái vị dưới áp lực của các tướng lĩnh, những người lo ngại rằng các cuộc biểu tình và tuần hành đòi cơm áo ở thủ đô St. Petersburg đang xói mòn nỗ lực chiến tranh chống Đức và các nước đồng minh của nó. Cuộc Cách mạng tháng Hai, như tên gọi biến cố ấy, lập ra một chính phủ lâm thời không do người dân bầu lên; chính phủ này cầm quyền mà không có một nghị viện dân cử. Nông dân bắt đầu giành lấy ruộng đất và các xô-viết (tức là các ủy ban chính trị) bắt đầu được thành lập trong binh lính ở chiến trường, cũng giống như các xô-viết đã được lập ra trước đó trong các nhóm chính trị ở đô thị.
Mùa thu năm ấy, khi chiến tranh diễn ra ngày càng dữ dội, những người bolshevik của Lenin đã tiến hành một cuộc khởi nghĩa vũ trang, huy động được có lẽ không quá 10.000 người. Cuộc đảo chính của họ không nhắm lật đổ chính phủ lâm thời từ lâu đã trở nên dở sống dở chết; thay vì vậy họ chống lại các xô-viết chính ở thủ đô do những người xã hội chủ nghĩa ôn hòa hơn thống trị. Cuộc Cách mạng tháng Mười bắt đầu là một cuộc lật đổ chớp nhoáng mà những người cánh tả cấp tiến thực hiện để chống lại phần còn lại của cánh tả, thành phần tố cáo những người bolshevik vi phạm quy tắc và sau đó đã bỏ ra khỏi các xô-viết.
Những người bolshevik, cũng như nhiều đối thủ của họ – là môn đệ trung thành của Karl Marx, nhà tư tưởng cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực vĩ đại của lịch sử. Cái mà ông gọi là chế độ phong kiến sẽ phải nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản, rồi đến lượt mình, chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản và cuối cùng là một thế giới đại đồng không tưởng xa xăm! Marx hình dung ra một kỷ nguyên mới của tự do và sung túc, và điều kiện tiên quyết của nó là sự phá hủy “chế độ nô lệ tiền lương” và sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Như ông và người cộng sự Friedrich Engels từng tuyên bố trong Tuyên ngôn Cộng sản năm 1848, học thuyết của họ “có thể được tóm gọn trong một câu đơn nhất: bãi bỏ quyền tư hữu”.
Một khi đã giành được quyền lực vào đầu năm 1918, những người bolshevik tự đổi tên thành Đảng Cộng sản và họ tìm cách buộc nước Nga phải cấp tốc đi lên chủ nghĩa xã hội, đi tới giai đoạn cuối cùng của lịch sử. Hàng triệu người bắt đầu tập sống theo những phương cách mới. Tuy nhiên không ai biết chính xác xã hội mới sẽ ra làm sao. “Chúng tôi không thể mô tả đặc điểm của chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi không biết, chúng tôi không thể nói chủ nghĩa xã hội sẽ như thế nào khi nó đạt đến hình thức hoàn hảo của nó”, Lenin kết luận như vậy vào tháng Ba năm 1918.
Nhưng với họ có một điều rõ ràng: chủ nghĩa xã hội không giống chủ nghĩa tư bản. Chế độ xã hội chủ nghĩa thay thế quyền tư hữu bằng sở hữu tập thể, thị trường thay bằng kế hoạch hóa và các nghị viện “tư sản” thay bằng “quyền lực nhân dân”. Tuy vậy vào thời điểm đó ngay cả một số người cộng sản đã rút ra kết luận là trong thực tế không thể nào thực hiện được kế hoạch hóa khoa học. Còn công cuộc tập thể hóa quyền tư hữu đã đem lại quyền lực không phải cho nhân dân mà cho nhà nước.
Quá trình do người cộng sản phát động đã kéo theo sự bành trướng rộng rãi một guồng máy công an mật vụ để xử lý các vụ bắt bớ, lưu đày trong nước và hành quyết những “kẻ thù giai cấp”. Sự truất hữu các nhà tư bản cũng làm giàu cho một giai cấp mới các cán bộ nhà nước, những người nắm quyền kiểm soát tài sản quốc gia. Tất cả các đảng phái và quan điểm nằm bên ngoài học thuyết chính thống đều bị đàn áp, chính trị như là một cơ chế để điều chỉnh bị xóa bỏ
Những mục tiêu được tuyên bố của cuộc cách mạng năm 1917 là sự sung túc và công bằng xã hội, nhưng sự tiêu diệt chủ nghĩa tư bản đã sinh ra những cơ cấu làm cho các mục tiêu đó không bao giờ đạt được.
Ở khu vực đô thị, chế độ xô-viết có khả năng dựa vào lực lượng công nhân nhà máy có vũ trang, những người mới kết nạp đảng đầy nhiệt huyết và công an chìm, dựa vào những người trẻ nôn nóng xây dựng thế giới mới. Nhưng ở nông thôn, người nông dân – có khoảng 120 triệu người như vậy – đã thực hiện cuộc cách mạng của riêng họ, lật đổ giới quý tộc và thiết lập trong thực tế quyền sở hữu ruộng đất của nông dân.
Với một đất nước bị tàn phá đang đi tới bờ vực của nạn đói, Lenin bắt buộc các cán bộ đảng còn miễn cưỡng phải chấp nhận cuộc cách mạng riêng rẽ của nông dân trong thời điểm đó. Ở nông thôn một nền kinh tế gần giống kinh tế thị trường vẫn được cho phép vận hành, bất chấp sự phản đối của các đảng viên cộng sản thuần túy.
Khi Lenin qua đời vào năm 1924, sự nhân nhượng với nông dân đã trở thành vấn đề của Stalin. Cho đến năm 1928, có chưa tới 1% diện tích đất canh tác đã được hợp tác hóa một cách tự nguyện. Vào thời điểm ấy, phần lớn các nhà máy chủ yếu đều đã do nhà nước làm chủ và chính quyền đã cam kết một kế hoạch 5 năm công nghiệp hóa. Các nhà cách mạng bực tức khi thấy giờ đây Liên Xô có hai hệ thống không tương thích với nhau – chủ nghĩa xã hội ở thành phố và chủ nghĩa tư bản ở làng quê.
Stalin đã không trì hoãn. Ông áp đặt công cuộc tập thể hóa cưỡng bức trên toàn quốc, từ ven biển Baltic tới ven bờ Thái Bình Dương, bất chấp những cuộc nổi loạn của quần chúng nông dân. Ông đe dọa các cán bộ đảng, bảo họ rằng nếu như họ không nghiêm túc trong việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, họ hãy chuẩn bị sẵn sàng để giao quyền lực cho những nhà tư sản đang nổi lên ở nông thôn. Ông kích hoạt cuộc chiến tranh giai cấp chống lại “kulak” (trung nông và điền chủ), và bất cứ ai bảo vệ họ, áp đặt hạn ngạch (quota) cho việc bắt bớ tràn lan và lưu đày nội địa.
Stalin nói rõ nguyên lý cơ bản về ý thức hệ của ông: “Chúng ta có thể phát triển nông nghiệp theo kiểu kulak, kiểu nông trại cá nhân, bên cạnh trang trại quy mô lớn” giống như ở “Mỹ và các nước khác” hay không? Ông hỏi. “Không, chúng ta không thể. Chúng ta là đất nước Xô-viết. Chúng ta muốn xây dựng một nền kinh tế tập thể, không chỉ trong công nghiệp mà cả trong nông nghiệp”.
Và ông đã không bao giờ thoái lui, ngay cả khi, do hậu quả các chính sách của ông mà đất nước Nga rơi vào một nạn đói nữa vào các năm 1931-1933. Tập thể hóa cưỡng bức trong mấy năm ngắn ngủi đó đã cướp đi sinh mạng của khoảng từ 5 đến 7 triệu người.
Tiền lệ khủng khiếp của Liên Xô đã không ngăn cản được các nhà cách mạng cộng sản khác. Mao Trạch Đông, một người cứng rắn như Stalin, đã vươn lên vị trí cao nhất của phong trào cộng sản Trung Hoa và vào năm 1949, ông và các đồng chí của ông trở thành người chiến thắng trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc. Mao đã thấy cái giá nhân mạng khổng lồ trong cuộc thử nghiệm của Liên Xô như là yếu tố nội tại của thành công!
Chính sách Đại Nhảy Vọt của Mao, một chiến dịch bạo lực diễn ra từ 1958 tới 1962, là nỗ lực tập thể hóa khoảng 700 triệu nông dân Trung Quốc và mở rộng công nghiệp về nông thôn. “Ba năm lao động cần cù và chịu đựng [để có] ngàn năm thịnh vượng”, là một trong những câu khẩu hiệu nổi bật thời đó.
Các báo cáo sai lệch về những vụ thu hoạch thắng lợi và nông dân sung sướng vui vẻ tràn ngập các khu nhà ở được cung cấp đầy đủ của giới tinh hoa cộng sản cầm quyền ở Bắc Kinh. Nhưng trong thực tế, chương trình của Mao đã dẫn tới một trong những nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử, làm chết đói khoảng từ 16 đến 32 triệu người. Sau thảm họa, mà những người sống sót nói tới như là “làn gió cộng sản”, Mao dập tắt hết những lời kêu gọi ngừng tập thể hóa nông nghiệp. Như ông từng tuyên bố: “nông dân muốn tự do nhưng chúng ta muốn chủ nghĩa xã hội”.
Những mất mát khủng khiếp này vẫn không ngăn chặn được sự lặp lại tính tàn bạo cộng sản nhân danh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản. Sau khi chinh phục được Cambodia vào năm 1975, Pol Pot và phe Khmer Đỏ của ông ta đã đuổi hàng triệu người ra khỏi các thành phố, đẩy họ về nông thôn làm việc trong các công xã và các dự án cưỡng bức lao động. Họ tìm cách biến Cambodia thành một xã hội thuần nông không có giai cấp.
Khmer Đỏ bãi bỏ đồng tiền, cấm đánh bắt cá để kinh doanh, hành quyết các tu sĩ Phật giáo, Hồi giáo; các cộng đồng thiểu số gốc Việt và gốc Hoa của đất nước bị coi là “kẻ xâm nhập”. Chế độ của Pol Pot cũng tập trung trẻ em để ngăn ngừa việc chúng bị lây nhiễm ý thức hệ từ cha mẹ “tư bản” của chúng.
Được biết đã có khoảng 2 triệu người Cambodia, tương đương một phần tư dân số vào thời ấy, đã chết vì đói rét, bệnh tật, bị hành quyết hàng loạt trong bốn năm ác mộng dưới ách cai trị của Pol Pot. Ở một số khu vực, ao chuôm nào đào lên cũng thấy sọ người
Phân tích về giai cấp của Marx bác bỏ tính chính danh của mọi phong trào chính trị đối lập, không chỉ từ các phần tử “tư sản” mà từ ngay bên trong các phong trào cộng sản – bởi vì những người đối lập phục vụ “một cách khách quan” cho lợi ích của trật tự tư bản quốc tế. Cái lô-gic về cách mạng không ngừng nghỉ chống chủ nghĩa tư bản sẽ chỉ tới một lãnh tụ duy nhất trên đỉnh một hệ thống độc đảng.
Từ Nga tới Trung Quốc, từ Bắc Hàn tới Cuba, các nhà độc tài cộng sản đều chia sẻ những đặc điểm chung chủ yếu. Tất cả đều ít nhiều tuân theo khuôn mẫu của Lenin: một sự pha trộn hệ tư tưởng đấu tranh với những thủ đoạn vô nguyên tắc. Và tất cả đều có sức mạnh ý chí tuyệt vời – điều kiện tiên quyết để thủ đắc những gì chỉ có sự đổ máu không tính nổi mới có thể mang lại.
Tuy nhiên, trong thế kỷ vừa qua chủ nghĩa cộng sản không phải là tác nhân duy nhất thực hiện các vụ tàn sát. Sự đàn áp của chủ nghĩa quốc xã (Nazi), những cuộc chiến tranh thanh lọc sắc tộc cũng đã giết hại khoảng 40 triệu người. Và trong thời Chiến tranh Lạnh, phong trào chống cộng sản đã kích hoạt những cơn bùng phát bạo động bất ngờ và dữ dội ở Indonesia, châu Mỹ Latin và nhiều nơi khác.
Nhưng bằng chứng về nỗi kinh hoàng cộng sản nổi lên liên tục trong nhiều thập niên đã gây sốc nặng cho những người cánh tả và theo tư tưởng tự do ở phương Tây, những người cùng chia sẻ nhiều mục tiêu công bằng xã hội của các nhà cách mạng. Nhiều người phản đối Liên Xô đã làm méo mó chủ nghĩa xã hội, và quy những tội ác của chế độ Xô-viết cho tình trạng lạc hậu của nước Nga, cho tính khí của Lenin và Stalin. Dù sao, Marx không bao giờ ủng hộ việc tàn sát hàng loạt hoặc các trại lao động kiểu Gulag. Không tìm đâu thấy ông biện luận rằng công an chìm, trục xuất người trên xe chở súc vật và chết đói hàng loạt là những biện pháp nên dùng để thiết lập các trang trại tập thể.
Nhưng nếu chúng ta phải học có một bài học từ một thế kỷ cộng sản thì đó chính là: để thực thi các lý tưởng của Marx thì cần phải phản bội chúng. Đòi hỏi của Marx “bãi bỏ quyền tư hữu” là tiếng kèn xung trận kêu gọi hành động – nhưng cũng là con đường kiên định dẫn tới sự hình thành nhà nước đàn áp, không bị kiểm soát.
Một số nhà xã hội chủ nghĩa bắt đầu nhận ra rằng, không thể có tự do nếu không có thị trường và sở hữu tư nhân. Khi họ bắt đầu giải hòa với sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, hy vọng sẽ điều tiết thay vì xóa bỏ nó, họ bị cáo buộc là những kẻ phản bội. Theo thời gian, ngày càng có nhiều nhà xã hội chủ nghĩa chấp nhận kiểu nhà nước phúc lợi, hoặc kinh tế thị trường có sự phân phối. Nhưng tiếng còi kêu gọi vượt qua chủ nghĩa tư bản vẫn còn vang vọng trong một số người cánh tả.
Những thành trì cố thủ quan trọng của thế kỷ cộng sản vẫn còn tồn tại, dù không theo kiểu Marxist chính thống, ở Nga và Trung Quốc. Cả hai quốc gia này vẫn tiếp tục hoài nghi những gì có lẽ là quan trọng nhất của thị trường tự do và sở hữu tư nhân: khả năng đem lại cho người dân thường sự độc lập trong suy nghĩ và hành động, cho họ quyền theo đuổi những lợi ích của chính họ mà họ thấy phù hợp, trong đời sống riêng tư, xã hội dân sự và không gian chính trị.
Nhưng chống chủ nghĩa tư bản còn được sử dụng như một chương trình thay thế trật tự thế giới bằng một trật tự mới, trong đó những mục tiêu dân tộc chủ nghĩa từ lâu bị đè nén sẽ được hiện thực hóa. Đối với Stalin và Mao, người thừa kế những nền văn minh cổ đầy tự hào, châu Âu và Hoa Kỳ đại diện cho sức cám dỗ và mối đe dọa của một phương Tây siêu việt. Những người cộng sản tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phải đuổi kịp và vượt qua các đối thủ tư bản chủ nghĩa và giành cho đất nước mình vị thế trung tâm trên sân khấu quốc tế. Cuộc đấu tranh cách mạng cho phép nước Nga thỏa mãn cái ý thức kéo dài nhiều thế kỷ về sứ mệnh đặc biệt của mình trên thế giới, trong khi nó cho Trung Quốc cơ hội để tuyên xưng một lần nữa là Vương quốc Trung tâm.
Sự chống đối phương Tây của Vladimir Putin, cùng với sự pha trộn đặc thù của ông trong đó niềm hoài vọng về thời đại Xô-viết hòa với sự phục hồi Chính thống giáo Nga, được xây dựng trên tiền lệ của Stalin. Về phần mình, tất nhiên Trung Quốc vẫn là cường quốc cộng sản cuối cùng, ngay cả khi Bắc Kinh quảng bá và cố gắng kiểm soát một nền kinh tế phần lớn là thị trường. Giờ đây, dưới quyền ông Tập Cận Bình, đất nước này vừa đi theo hệ tư tưởng cộng sản vừa khai thác văn hóa truyền thống Trung Hoa trong nỗ lực nâng cao vị thế quốc gia như là một sự thay thế phương Tây.
Thế kỷ máu của chủ nghĩa cộng sản đã đi tới lúc kết thúc, và chúng ta có thể bày tỏ niềm vui về sự lụi tàn của nó. Nhưng những khía cạnh đáng lo ngại trong di sản của nó thì vẫn còn dai dẳng!
S.K.
__________
Stephen Kotkin là giáo sư sử học và quan hệ quốc tế đại học Princeton và nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Hoover của đại học Stanford. Cuốn sách mới nhất của ông, “Stalin: Chờ đợi Hitler, 1929-1941” vừa được Penguin Press xuất bản tháng trước.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2017/11/babui_06112017.jpghttps://kyvancuc.files.wordpress.com/2014/10/loikhuyenvangjpg

TBT Trọng: 'Cách mạng Tháng 10 mãi ngời sáng'

  • 7 tháng 11 2017
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng nói về sự 'đau xót' khi Liên Xô sụp đổ nhưng ca ngợi tư tưởng Cách mạng Tháng 10 Nga 'mãi ngời sáng'.
GS Nguyễn Phú Trọng viếng Lăng Lenin ở Moscow trong chuyến thăm Nga hồi năm 2014
GS Nguyễn Phú Trọng viếng Lăng Lenin ở Moscow trong chuyến thăm Nga hồi năm 2014
Trong bài diễn văn được truyền thông Việt Nam đăng tải hôm 05/11/2017 để đánh dấu 100 năm cuộc cách mạng năm 1917 ở Nga, Giáo sư Trọng nói:
"Tư tưởng vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người mãi mãi ngời sáng!"
GS Nguyễn Phú Trọng viếng Lăng Lenin ở Moscow trong chuyến thăm Nga hồi năm 2014
Giáo sư Nguyễn Phú Trọng vào thăm Lenin trong Lăng ở Hồng Trường, Moscow hồi cuối 2014
Ông cũng nhắc lại và bày tỏ lòng "nhớ ơn sâu sắc Cách mạng Tháng Mười, với những cống hiến vô giá của nhân dân Liên Xô đối với nhân loại".
Ngoài ra, ông nhắc về "mối tình thắm thiết Việt - Xô", và cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và nhân dân Việt Nam "đau xót trước biến cố đầy bi kịch xảy ra ở Liên Xô vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước", sự kiện Liên Xô tan rã.

'Không khỏi bàng hoàng'

Giáo sư Nguyễn Phú Trọng thừa nhận cảm xúc 'bàng hoàng' trước sự kiện năm 1991.
Nga
Tại Liên bang Nga ngày nay những người cao tuổi vẫn lưu luyến các hình ảnh của Liên Xô
"Vẫn biết cách mạng là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, không phải là con đường bằng phẳng, dễ dàng, có khi nó phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, quanh co, khúc khuỷu, thậm chí có lúc tạm thời thất bại, thụt lùi, nhưng chúng ta vẫn không khỏi bàng hoàng trước biến cố đó."
Tuy nhiên, ông nhận định Đảng Cộng sản Việt Nam cần "tỉnh táo nhận diện những nguyên nhân chủ quan và khách quan đưa tới sự việc đau buồn đó".
"Và điều quan trọng hơn là cần rút ra những bài học sâu sắc để tiếp tục kiên trì và kiên quyết theo đuổi mục tiêu, lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tránh rơi vào những sai lầm đã làm Liên Xô đổ vỡ."
TBT Nguyễn Phú Trọng, người từng học tại Liên Xô về chủ nghĩa Marx-Lenin cho rằng lối thoát chính là nhận diện ra "sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên".
Hình ảnh chiếc búa và lưỡi liềm ra đời như thế nào? Vì sao nó trở thành biểu tượng của Cách mạng Nga và Liên bang Xô Viết?
Tượng Lenin
Giới trẻ Việt Nam ngày nay chọn địa điểm dưới chân tượng Lenin ở Hà Nội để sinh hoạt văn hóa như vui chơi nhảy múa
Nay ông thúc dục, "toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân."
"Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng."
Việt Nam là một số quốc gia còn lại trên thế giới tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm cuộc cách mạng của Lenin năm 1917.
Tại Nga ngày nay, chính quyền của Tổng thống Vladimir Putin đề cao ngày Thống nhất Quốc gia 04/11 thay cho ngày 7/11 là dịp đảng cộng sản tuần hành kỷ niệm Cách mạng Tháng 10 năm 1917.


__._,_.___


Posted by: Dien bien hoa binh <

Popular Posts

Popular Posts

My Blog List